Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
văn

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 09h:39' 19-04-2024
Dung lượng: 751.0 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 09h:39' 19-04-2024
Dung lượng: 751.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Truyện cười Azit Nêxin - Xin ch-ào-ào!
Tác giả: Azit Nêxin
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.html
OPDS catalog :
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
Mọi chuyện bắt đầu từ đôi tất
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Câu chuyện sau xảy ra khi tôi còn trẻ, vào năm tôi vừa mới đi
làm. Văn phòng nơi tôi được nhận vào làm anh công chức cấp thấp
nhất do ông Axưm phụ trách. Đó là một người đàn ông đứng tuổi
tính tình cởi mở và đôn hậu. Nhân viên văn phòng gọi ông bằng ngài
Axưm. Nhưng trong các cuộc trò chuyện không chính thức bao giờ
họ cũng gọi ông bằng một biệt "Axưm - cho cả thế giới". Tôi cũng
không hiểu ông có thích hay không cái biệt danh lạ tai này.
Người tỉnh lẻ thường hay sống tập trung không ở phân tán rải
rác xa nhau như dân các thành phố lớn. Vậy nên mọi người đều biết
rõ về nhau. Một lần tôi hỏi các đồng sự về nguồn gốc của các biệt
danh trên:
- Chuyện này cậu nên hỏi chính chủ thì hơn - một đồng sự nói
với tôi thế.
- Không ai kể chuyện này hay hơn ông ấy - ông khác bổ sung
thêm.
Tôi chỉ biết một điều là trước khi về sở này có một thời ông đã
ông từng là một viên chức cao cấp ở Stambun.
Sau khi đi làm được một năm, tôi quyết định lấy vợ. Gia đình
nhà gái muốn tổ chức cưới ngay và gộp cả lễ đính hôn và lễ cưới
làm một luôn thể. Sở dĩ bố mẹ vợ tương lai giục tôi cưới nhanh là
bởi ở chốn tỉnh lẻ này quan hệ bạn bè nam nữ dễ nẩy sinh ra lắm
chuyện dèm pha, phá thối. Trong khi đó thì thực sự chúng tôi chưa
hiểu nhau kỹ. Chẳng hạn tôi chưa thể biết được tính tình và những
thói quen của cô ấy ra sao.
Tin đồn về đám cưới sắp tới của chúng tôi lan nhanh khắp thị
xã. Một lần tôi lên phòng sếp để xin chữ ký, ngài Axưm bỗng bất
ngờ hỏi tôi:
- Nghe nói cậu sắp cưới vợ?
- Thưa ngài đúng ạ!
Ông nhìn tôi bên trên cặp kính:
- Gia đình cô ấy thuộc loại nào?
- Dạ thưa ngài, tôi chỉ biết sơ sơ rằng gia đình cô ấy vào loại
bậc trung.
- A - ha - a - ả - ông kéo dài giọng, rồi bất ngờ mời tôi:
- Nếu chiều nay cậu rỗi, tôi mời cậu cùng đi ăn tối.
Tôi cảm ơn sếp và chúng tôi hẹn gặp nhau ở một nhà hàng nọ.
- Chắc cậu đã biết người ta gọi mình bằng biệt danh "Axưm cho
cả thế giới" rồi chứ? - ông hỏi tôi sau khi cả hai vừa uống xong ly
rượu khai vị.
- Cậu không phải băn khoăn! Tôi sẽ kể cho mà nghe... Chỉ có
điều là trước tiên cậu hãy nói cho tôi biết, cô gái ấy là người như thế
nào đã.
Như tôi đã thú nhận, câu hỏi này đối với tôi rất khó trả lời, nên
tôi đành im lặng. Thấy thế ngài Axưm liền gỡ bí cho tôi.
- Vậy là cô ta xuất thuân từ một gia đình không giàu có... Một cô
gái giản dị. Điều này làm anh vừa ý. Và tất nhiên anh tin rằng mình
có thể cho cô ta tất cả những gì cần thiết, miễn là để cô ấy hạnh
phúc. Có phải thế không nào?
- Dạ, vâng đúng thế ạ! - Tôi khẳng định.
- Đó, vấn đề là ở chỗ ấy đấy! - Ông gật đầu tán thưởng. - Khi
xưa mình cũng suy nghĩ y hệt như cậu bây giờ... Nhưng thôi, dù sao
chăng nữa, xin chúc mừng hạnh phúc cậu! - Ông rót đầy hai li rượu,
chúng tôi cụm li, cạn chén.
Còn bây giờ, - ông nói tiếp và nhìn như xoáy vào tôi, - cậu hãy
nhớ cho kỹ lời khuyên của tôi. Chỉ mua cho vợ những đôi tất chân
mà cô ấy vẫn dùng khi ở với bố mẹ đẻ. Nghĩa là phải chọn mua
đúng loại, cùng giá cùng chất lượng, cấm kỵ không được mua loại
tất nào khác! Chớ vội tặng nàng cả thế gới, nếu không hỏng bét,
như tôi đã vấp phải. Tôi biết, giờ thì cậu bỏ ngoài tai những lời vớ
vẩn này. Mà cũng đúng thôi, ông ấy làm ra vẻ quan trọng, tại sao ta
không mua nổi được vài đôi tất chân đắt tiền? Nhưng xin cảnh tỉnh
cậu trước, mọi chuyện sẽ bắt đầu từ đôi tất chân này. Bởi vì có tất
rồi thì phải có giày, tất đẹp đi với giầy đẹp. Có giầy đẹp rồi thì phải
có váy đẹp. Váy đẹp phải đồng bộ với sơ mi đẹp... Cứ thế nhu cầu
đẹp cứ tăng lên mãi không cùng. Kết cục sẽ đi đến đâu, cậu có biết
không... Sẽ có ngày cậu mất vợ lúc nào không biết.
Trước kia khi mới đi làm, mình cũng là anh viên chức quèn như
cậu bây giờ. Mình đắn đo mà không dám lấy vợ, vì sợ rằng với đồng
lương còm ấy, cưới nhau rồi lấy gì mà sống... Thế là mình cứ sống
độc thân mãi. Rồi dần dần ngạch bậc được thăng trật, đồng lương
cũng khá hơn. Đâu đến gàn bốn mươi tuổi mình đã mua được một
căn hộ nhỏ xinh xinh, ấm cúng. Lúc này đã có thể nghĩ đến chuyện
lấy vợ. Tôi quyết định chọn một cô gái con nhà nghèo, với ước
muốn làm thoả mãn cô ấy bằng những gì mình có và như thế cô ấy
sẽ mang ơn suốt đời!
Cô gái mà tôi chọn tên là Xabikha, năm ấy hai mươi mốt tuổi.
Mặc dù sinh ra trong một gia đình nghèo, nhưng cô ấy đã học xong
phổ thông trung học. Cô ta không đẹp như có nét mặt chất phác, dễ
thương... Xabikha không có của hồi môn, không sao, tôi hoàn toàn
có thể tặng nàng mọi thứ, tôi sẽ tặng nàng cả thế giới này! Nhưng
nàng lại từ chối tất cả: khi tôi gợi ý mua quần áo mới cho Xabikha thì
cô ấy nói rằng: "Em vẫn đủ mặc"; còn nói tới son phấn thì cô ấy bảo
"Phụ nữ không phải là con búp bê"; tôi định mua vòng đeo tai thì cô
ấy chối; "Em không phải tên cướp biển mà phải đeo các loại vòng ở
hai tai..." Đây, Xabikha của tôi là như thế đó. Tôi nở gan nở ruột vì
nàng.
Nửa năm đã trôi qua kể từ ngày chúng tôi cưới nhau. Một lần
hai vợ chồng chúng tôi đi chơi, ghé vào một cửa hàng, tôi rất muốn
mua cho nàng một đôi tất mới rất đẹp và đắt tiền. Vẫn như mọi khi,
cô ấy nói: "Không cần mua nữa, em có hai đôi tất rồi". Hai đôi thì
nghĩa lý gì" Thằng đàn ông như anh ít ra cũng có tới mười đôi tất
chân cơ mà. Nàng nghe ra, đồng ý để tôi mua. Tôi chọn hai đôi đắt
tiền nhất. Ôi, nàng sung sướng muốn trào nước mắt. Tôi thấy vui lây
trước ánh mắt rạng rỡ của nàng.
Nào xin mời cạn chén... chúc sức khoẻ cậu.
Phải đến hai tháng sau tôi vẫn không thấy nàng đi tất mới! Hỏi
ra mới biết, tất mới không hợp với đôi giày cũ, còn tất cũ thì rách hết
rồi... "Thế mà em cứ lặng im không nói là làm sao?" cô ấy đáp lại
rằng, em không tiện nói về việc này. Thế là tôi phải ép cô ấy cùng đi
đến hiệu giầy mua đôi giày đẹp nhất. Nhưng do vụng về tôi không
đoán ra được đôi giầy mới không thích hợp với bộ váy áo cũ của cô
ấy. Phải gần một tuần sau Xabikha mới bối rối nói ra điều ấy. Thế là
dần dần phải mua mới toàn bộ từ váy, áo, áo khoác, mũ cho cô ấy.
Tuy vậy, phải thừa nhận rằng sở dĩ tôi đoán ra được Xabikha cần cái
gì nữa là căn cứ những lời nói xa xôi về tổng thể; về sự hài hoà của
nàng.
Nhưng không lâu sau lại thấy cô ấy rất buồn bã. "Em thân yêu
ơi, em hãy nói đi, làm sao mà em buồn thế?". "Em xấu hổ quá, anh
yêu quý ơi.. Nhưng có phải em muốn thế đâu... Tất cả là do anh nài
ép em đi mua những thứ quần áo giầy dép này, chứ thực ra em
chẳng cần gì cả... Nhưng giờ thì em không biết nên nói thế nào với
anh? Chắc hẳn anh biết ngạn ngữ "Đã thương thì thương cho trót..."
Anh biết đấy đồ lót của em không hợp với váy áo, com lê mới mặc
ngoài.
Ôi, chúa ơi, quả thật không ngờ. Nhưng, nếu như trong số biết
bao nhiêu cô gái, tôi chỉ chọn được mình Xabikha để mà tặng cả thế
giới thì mắc mớ gì mà tôi không mua nổi đồ lót hợp mốt với trang
phục bên ngoài của nàng? Hơn thế nữa tôi đã thuyết phục bằng
được để cô ấy mặc xu - chiêng cơ mà? Trước kia cô ấy có ý dùng
thứ ấy bao giờ đâu... Sau vụ đồ lót, Xabikha lại phàn nàn về tóc tai
của mình. Lúc đầu tôi cứ tưởng cô ấy muốn mua tóc giả cho phù
hợp với khuôn mặt và dáng người, nhưng mãi sau mới rõ cô ấy chỉ
muốn làm lại đầu cho hợp mốt...
Thời gian trôi qua, một buổi tối Xabikha mở đầu câu chuyện
thường nhật: "Anh ơi, quả là em không muốn... Hơn nữa em có cần
gì đâu. Mọi thứ anh đều mua cho em..." "Tất nhiên, tất nhiên thế, em
yêu quý ơi, - tôi trả lời - Giờ em còn cần gì nữa thì hãy nói luôn" "không, em không cần gì nữa, đầu tóc, ăn mặc, giầy dép thế là tuyệt
lắm rồi... Nhưng anh hãy để ý đến căn hộ của chúng ta mà xem.
Chúng ta đang sống trong căn phòng tồi tàn cũ nát chẳng ra sao
cả". Tôi đảo mắt một lượt khắp gian phòng: cô ấy nói đúng.
Đồ gỗ bài trí trong nhà quá thô kệch, không hài hoà với bộ trang
phục đắt tiền mà cô ấy đang mặc trên người.
Mà thôi, sao tôi kể lể dài dòng đến vậy. Xin mời cậu cạn chén!
Phần sau của câu chuyện không còn dài nữa đâu, một vài câu nữa
là xong.
Sắm xong đồ gỗ, cô ấy lại đòi mua ti vi (trong khi đó khi còn
sống với bố mẹ đẻ, cô ấy chưa biết đài thu thanh là gì). Đương
nhiên cô ấy vẫn luôn biện bạch rằng, riêng em thì chẳng cần gì... Cái
chính là để cho hài hoà, tổng thể, cân xứng. Sau đấy chắc cậu cũng
đoán ra, cô ấy phàn nàn căn hộ chật hẹp, tối tăm. Đến lúc này vì
phải chi phí quá nhiều tôi bắt đầu bị túng bí. Cũng còn may là tôi
được đánh giá tốt nên vẫn được cất nhắc chức vụ đều đều... Và rồi
chúng tôi cũng mua được căn hộ vừa ý trong một khu phố lịch sự.
Nếu như tôi đã từng muốn tặng nàng cả thế giới thì hà cớ gì mà tôi
lại không làm thủ tục giấy tờ sở hữu căn hộ mang tên nàng? Tiếp
theo sau nữa là gì? Hoá ra cư dân của khu phố này đều có xe hơi
riêng. Đó chính là sự hài hoà đích thực với con phố, với những toà
nhà sang trọng. Vì thế tôi cũng mua một chiếc xe con, và đương
nhiên là tôi mua cho Xabikha chứ không phải cho tôi.
Cuối kỳ cùng thì tôi mới ngã ngửa ra rằng mặc dù chính tôi là
người tạo ra cho nàng toàn bộ sự "hài hoà" từ đầu đến chân, từ nhà
đến xe, tạo ra toàn bộ khối "tổng thế" ấy, nhưng chính tôi lại bị đánh
bật ra khỏi nó bởi tôi không "hài hoà" trong cái "tổng thể" mới này.
Thế đấy, mọi chuyện bắt đầu từ một đôi tất chân.
Cấm
Sở chúng tôi nhiều năm vẫn làm việc trong một ngôi nhà cũ dột
nát, ván sàn mục ruỗng, ọp ẹp, gác thượng chuột kêu chí choé suốt
ngày. Giữa lúc chúng tôi chán ngán nhất thì đùng một cái được
chuyển sang nhà mới, nên ai cũng cảm thấy sướng như tiên. Mặc
dù cửa kính bám vôi, sàn nhà vương vãi phôi bào, cám cưa và vữa
xi măng, chúng tôi hò nhau xắn tay áo lên cùng nhau lau chùi, dọn
dẹp chẳng mấy chốc mà xong. Mọi người xoa tay hả hê sắp xếp chỗ
làm việc mới.
Khi chuyển sang chỗ mới không có sự thay đổi nào về nhân sự,
duy chỉ có việc thuyên chuyển ngài giám đốc sang một sở khác.
Giám đốc mới về thay, trước khi đến sở chúng tôi, đã nổi tiếng là
một người hết sức nghiêm khắc
Giám đốc mới là một người cao lêu đêu, khô gầy như que củi.
Mái tóc ông cắt ngắn ngủi, ánh mắt nhìn sắc như dao cạo. Có cảm
giác như ánh mắt ấy xuyên thủng người cấp dưới.
Bắt đất làm nhiệm vụ, giám đốc ban bố một mệnh lệnh gồm
mười bốn mục. Một trong những mục đó có nêu rõ: "Mọi người phải
chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh. Tất cả các điều cấm phải thực
hiện triệt để nhất.. Chỉ có kỷ luật chặt chẽ mẫu mực mới có thể dẹp
tan được dư luận không hay mà dân chúng vẫn truyền khẩu nhau
bằng câu ngạn ngữ: "Lệnh cấm ban ra, ba ngày hết thiêng". Câu nói
độc hại này do kẻ thù trong nước đặt ra để làm tê liệt tinh thần cảnh
giác của chúng ta.
Sau khi nghiên cứu xong nội dung các mục, tôi và các đồng sự
phải ký tên vào dưới bản mệnh lệnh. Vào giờ đầu buổi chiều, bản
mệnh lệnh lại được mang đến. Hoá ra, tôi quên không viết chữ "đã
đọc" và đề ngày tháng phía dưới. Lập tức chúng tôi hiểu rằng đừng
có mà đùa với vị sếp mới của sở. Tiếng dữ đồn xa, chỉ mới nghe
thấy sếp ngoài hành lang, chúng tôi đã bắt đầu run lên cầm cập.
Ngài giám đốc mới bắt đầu hoạt động một cách hết sức ráo riết.
Hết mệnh lệnh này đến chỉ thị khác tới tấp gửi xưống cho chúng tôi
thực hiện. Các tấm biển mới được treo lên dồn dập. Sở đã thuê
riêng một người ngoài thành phố vào làm những tấm biển tên này.
Chỗ làm việc của anh ta được bố trí ở chân cầu thang, cạnh cửa
chính của cơ quan. Vừa mới tới chỗ làm, anh ta bắt tay ngay vào
công việc, vì cơ quan khoán gọn tiền công. Ngay cổng cơ quan đã
có một biển to bằng đồng ghi đầy đủ tên cơ quan, ngoài ra trên cửa
các phòng ban đều đã treo các biển tên rồi, do vậy chúng tôi nóng
lòng chờ đợi xem người thợ sẽ làm thêm những biển tên nào.
Gần hết giờ làm việc anh ta đã làm được mười biển tên có cùng
một dòng chữ đen trên nền trắng "Cấm ngắt hoa".
Nhìn thấy những tấm biển này chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau.
Ngôi nhà mới của chúng tôi nằm giữa một khu hoang vắng, khô cằn.
Trong khuôn viên cơ quan không nói gì đến hoa mà cả những bụi
lúp xúp, cây hoang cỏ dại, tịnh không hề có một thứ gì. Ba ngày liền,
người phụ chỉ làm độc mỗi biển tên này. Sang ngày thứ tư mới xuất
hiện biển mới "cấm mang theo chó vào công viên". Thấy thế chúng
tôi lại càng ngạc nhiên hơn. Sân cơ quan chúng tôi được rào bằng
dây thép gai. Đất khu vực này rất xấu, lại khô cằn, cỏ không mọc
nổi, đây đó vài ba khóm cúc gai, tầm ma mọc hoang. Vậy công viên
ở đâu?
Ngài giám đốc thân chinh chỉ huy việc đặt các biển tên này ở
sân cơ quan, ông sửa đi chỉnh lại cho thật ngay ngắn, đẹp đẽ.
Người thợ vẫn mải miết tiếp tục công việc của mình. Lại xuất
hiện biển tên mới: "Cấm xe ô tô vào công viên" Cái biển này lại càng
kỳ quặc hơn nữa! Hàng rào dây thép gai xung quanh sân chỉ lựa
một lối vào đây được mà cấm?
Sáng hôm sau mới thực sự bất ngờ. Dọc theo suốt hàng rào cứ
cách ba - bốn mét một lại có một biển tên: "Đề phòng rách quần áo.
Cấm không đến gần hàng rào thép gai".
Cánh nhân viên chúng tôi thi nhau đoán già đoán non ý định
của sếp chúng tôi. Một số người cho rằng ông chuẩn bị xây dựng
công viên. Số người khác lại nói: "Có mà rỗi hơi trồng hoa ở đây.
Còn lạ gì dân xứ mình nữa. Bao nhiêu vườn hoa đều bị nhổ sạch,
ngắt sạch rồi". Số người thứ ba cũng tỏ ra không tán thành nhưng
nói nhỏ nhẹ hơn.
Đã mấy tuần trôi qua vẫn không thấy một khóm hoa nào được
trồng. Trong khi đó người thợ vẫn tiếp tục làm biển tên. Vào một
ngày kia, khi chúng tôi đến làm việc, thấy ở cửa chính treo biển tên
"Cấm vào". Không biết làm gì hơn, chúng tôi đi đến cửa thứ hai, ở
đó cũng treo biển tên như thế. Đến cửa thứ ba treo biển tên: "Cấm
vào ra cửa này".
Cả một đám đông nhân viên tụ tập cạnh ngôi nhà cơ quan.
- Thế nào các bạn, chúng ta đứng ngoài mãi thế này à? - Có ai
đó lên tiếng.
- Đành phải leo qua cửa sổ mà vào, - người khác đáp lại, giọng
than vãn.
Trèo vào nhà qua cửa sổ là một việc không có gì khó khăn. Một
người cúi xuống cho người khác trèo lên lưng, bám bệ cửa mà chui
vào, cứ thế lần lượt rồi cũng vào được nhà bằng hết. Nhưng nếu
ngày mai sếp lại ra lệnh treo biển cấm trèo lên cửa sổ thì làm thế
nào? Không thể chui trong ống thoát nước mà vào được!
- Không hơi đâu mà chú ý đến biển cấm, - có ai đó thốt lên - Cứ
cửa chính mà vào, thế là xong chuyện!
Tuy nhiên không ai hưởng ứng lời nói đó, mọi người đều sợ
ngài giám đốc. Tuần nào chúng tôi cũng phải ký tên vài lần dưới bản
mệnh lệnh của ông ấy, do vậy nỗi sợ hãi trước các điều cấm đã ăn
sâu vào trí óc chúng tôi.
Chúng tôi sẽ còn đứng vẩn vơ mãi ngoài phố, nếu như không
có các đồng sự đã vào được nhà gọi với ra bảo: "Phía sau nhà có
một cửa nhỏ. Hãy vào bằng cửa đó". Chiếc cửa nhỏ xíu trong như
cửa chuồng gà dẫn đến tầng trệt. Từ đó chúng tôi đi lên, về các
phòng làm việc của mình.
Sau đó mấy ngày ngài giám đốc cho triệu tập chúng tôi ở phòng
họp và ngài đã có lời phát biểu khá dài.
"Tất cả mọi điều rắc rối, - ngài giám đốc nói, - đều xuất phát từ
sự vi phạm các điều cấm. Trong bất kỳ trường hợp nào, kể cả ở tình
thế khó khăn nhất vẫn cần phải thực hiện nghiêm ngặt các mệnh
lệnh. Việc vi phạm mệnh lệnh sẽ làm mất uy tín và phá vỡ kỷ luật
của chúng ta".
Vào thời điểm này, người làm việc cần mẫn nhất trong cơ quan
chúng tôi là anh thợ sản xuất các biển tên. Chúng tôi quan sát anh
ta làm việc một cách hết sức hào hứng và tò mò. Thế là lập tức sau
đó trên đầu anh ta xuất hiện một tấm biển: "Cấm không được đến
gần và trò chuyện, làm xao lãng công việc".
Trong khi đó thì trong khuôn viên cơ quan bắt đầu xảy ra những
việc lạ lùng, thật là khó hiểu. Chẳng hạn như hôm trước vừa treo
biển "Cấm chó vào" thì hôm sau loài súc vật này vốn trước kia
chẳng hề lai vãng đến khu đất trống của cơ quan chúng tôi làm gì,
nay bỗng nhiên dắt díu nhau hàng đàn đến tụ tập, biến khu vực cấm
thành nơi hẹn hò tình tự của chúng.
Trên con phố dẫn đến cơ quan chúng tôi, hàng ngày nghe thấy
tiếng người gọi chó, và sau mỗi nhân viên của cơ quan thường thấy
vài ba chú khuyển bám theo. Hoá ra họ không tiếc tiền mua thịt và
xương để nhử chúng vào trong cơ quan.
Thậm chí tôi vốn là người không thích loài súc vật này cũng bắt
đầu thay đổi cách nghĩ. Tôi mua các miếng thịt vụn để nhử lấy một
vài con theo mình vào chỗ đất trống của cơ quan. Thế nhưng tìm
được chó để nhử ngày càng khó hơn. Hình như tất cả chúng đã "du
cư" vào sân cơ quan chúng tôi. Ở đây chúng tha hồ đùa giỡn, cắn
xé nhau và sủa ầm ĩ vang trời.
Trong một cuộc họp thường kỳ của cơ quan, sếp chúng tôi
tuyên bố.
- Như mọi người đã biết tôi đã ra lệnh cấm thả chó vào khu
vườn của cơ quan. Một số nhân viên chúng ta đã coi thường lệnh
cấm này. Nhưng tôi đã biết trước những gì sẽ xảy ra. Quả thực sự
tiên đoán đó đã được minh chứng.
Mặc dù đã có lệnh cấm mà chó vẫn vào đầy vườn, vậy thử hình
dung xem, nếu không có các biện pháp kịp thời thì việc này còn dẫn
đến đâu nữa. Đó, thêm một lần nữa khẳng định sự cần thiết của các
lệnh cấm.
Theo như lời ông giám đốc nói, thì suốt đời ông không bao giờ
vi phạm những điều cấm. Ông cho rằng đó chính là nguyên nhân
đảm bảo cho mọi thành công của ông trong công vụ.
Một thời gian sau, các khóm cúc gai bắt đầu nở những bông
hoa nhỏ mầu xanh sẫm. Nhân viên cơ quan kể cả những người xưa
nay vốn vẫn cố gắng chấp hành những điều cầm, nay cũng bắt đầu
hái trộm loài hoa trước kia không ai để ý đến này. Bàn tay họ bị gai
cứa sây sát y như mèo cào.
Cả cơ quan chỉ mỗi mình ông Burkhan, còn ba tháng nữa sẽ về
hưu là người duy nhất tránh được sự cám dỗ của hoa cúc dại một
thời gian. Ông vốn là người rất yêu hoa và thích trồng hoa ở nhà
mình. Nhưng cuối cùng ông không cưỡng lại được sự ham muốn
hái hoa cúc dại như mọi người. Một hôm tôi đến sở sớm hơn
thường lệ. Từ phòng làm việc nhìn ra cổng cơ quan, tôi bỗng thấy
ông Burkhan đang bước vào sân và xăm săm đi tới các khóm cúc
dại và tầm ma. Tôi đứng nép vào góc phòng, lăng lẽ quan sát xem
ông ấy làm gì. Ông Burkhan đưa mắt đảo quanh vẻ sợ sệt rồi mở
cặp lấy đôi găng tay da xỏ vào hai bàn tay và bắt đầu nhỏ những
khóm tầm ma.
Đến lúc này tôi mới biết tại sao tay ông không bị xây xước như
tay chúng tôi.
Còn sếp của chúng tôi thì vẫn dài giọng:
- Giờ thì các ông mới tin rằng tôi cấm hái hoa là đúng. Khi tôi ra
lệnh treo biển cấm, có người cười mỉa tôi, cho rằng làm gì có hoa
mà cấm hái. Đấy nhé, hoa cúc dại, hoa tầm ma còn hái trộm, huống
hồ nếu có vườn hoa tươi thắm ở đây thì sẽ ra sao!
Chúng tôi chỉ còn biết gật gù phụ hoạ theo sếp. Không ai dám
phản đối. Sếp nói đúng. Đối với cánh nhân viên chúng tôi không thể
làm khác được.
Trên là chuyện về biển cấm "Cấm cho chó vào" và "Cấm ngắt
hoa". Còn chuyện về biển cấm "Cấm không đến gần hàng rào dây
thép gai, đề phòng phòng rách quần áo" thì như thế này.
Tất cả nhân viên đều bị rách quần, rách áo. Sáng sáng vào giờ
đầu làm việc thường có những câu chuyện đại loại như:
- Này ông Akhmét, quần ông bị toạc miếng to, nhìn thấy cả
quần lót kia kìa.
- Vâng, ông Mekhmét, tôi bị hàng rào dây thép gai cào phải...
mà tay áo ông hình như cũng bị rách phải không?
- Tôi cũng bị dây thép gai cào.
Hai chúng tôi bảo nhau lấy kim băng gài tạm vào các chỗ rách
lại, để đến tối về nhà mới vá. Tôi chẳng còn bộ com lê nào lành lặn
cả. Cứ mỗi lần nhìn thấy biển cấm với dòng chữ "Cấm đến gần..." là
lập tức trong lòng tôi lại sục sôi ý muốn vi phạm điều cấm này bằng
được. Và mỗi lần vi phạm, nếu không bị rách áo thì cũng rách quần.
Phần lớn các cộng sự của tôi đều nhảy qua hàng rào dây thép gai
này. Chỉ có những nhân viên lớn tuổi mới chịu đi theo lối nhỏ len lỏi
trong hàng rào. Riêng ông Burkham không chịu đi cùng đường với
các bạn già mà lại muốn thử sách nhảy qua được hàng rào, còn
người thì bị treo lơ lửng trên không, y hệt như súc thịt nguyên con,
treo trong quầy hàng thực phẩm. Khi chúng tôi gỡ ông xuống được,
thì quần áo trên người ông không còn mảnh nào lành cả.
Sân cơ quan chúng tôi đáng lẽ phải trồng hoa giờ đây biến
thành chỗ để xe nôi trẻ em, xe cút kít, xe đạp chật ních, chó không
có chỗ mà chạy. Xe con đến cơ quan làm việc không qua lọt chiếc
cổng hẹp, đành đậu thành dãy ngoài phố!
Người thợ làm biển tên vẫn tiếp làm việc. Ngày nào giám đốc
cũng nghĩ ra được những bảng cấm mới. Sau tấm biển "Cấm không
mở cửa sổ" là những biển mới: "Cấm vào", "Cấm ra", "Cấm nhổ
bậy", "Cấm vứt đầu mẩu thuốc lá", "Người ngoài cấm vào", "Cấm
hút thuốc", "Cấm hút thuốc", "Cấm ngồi trên những chiếc ghế này",
"Cấm nói to", "Cấm chạm vào hộp cầu chì, nguy hiểm", Cấm ngặt
viết vẽ lên tường".
Số biển tên được sản xuất tăng nhanh với tốc độ khủng khiếp.
Chẳng bao lâu sau một nửa, tiếp đến ba phần tư số phòng chúng tôi
không được phép sử dụng. Số biển cấm có nội dung kỳ quặc ngày
càng xuất hiện nhiều hơn. Chẳng hạn trên cửa các phòng vệ sinh
xuất hiện các tấm biển: "Không có việc cấm vào". Từ ngày treo biển
cấm này, không hiểu sao tất cả các hố xí suốt ngày lúc nào cũng có
người ngồi trong. Không rõ tấm biển này do giám đốc ra lệnh treo
lên, hay một nhân viên nào đó nghĩ ra trò tinh nghịch này. Trên cửa
phòng làm việc của giám đốc có treo năm tấm biển. Một trong số đó
có tấm biển "Cấm nhổ bậy".
Các phòng làm việc của cơ quan đều sáng sủa, nhưng bên trên
mỗi bảng công tắc điện đều treo tấm biển "Không bật đèn vào ban
ngày", chính vì vậy mà các bóng điện cứ sáng đều từ sáng cho đến
tối và từ tối cho đến sáng. Chúng chỉ không sáng cho đến khi bị
chập mạch, cháy bóng. Trên nắp hộp cầu chì có biển cấm "Không
chạm vào hộp nguy hiểm", thì nhân viên lại càng "tích cực" động
chạm vào hộp, ai muốn chọc ngoáy thế nào, lúc nào cũng được.
Trên sàn nhà và trên hành lang đầu mẩu thuốc lá vương vãi khắp
nơi. Một lần nhìn thấy một ông khách ăn mặc sang trọng nhổ nước
bọt ra sàn nhà, tôi liền chỉ lên tấm biển và hỏi với giọng bực bội:
- Ông có biết chữ hay không đấy?
- Xin thứ lỗi cho tôi, - ông khách đáp với giọng ngượng ngùng. Tôi chỉ muốn nhử thử một bãi xem thế nào.
Sang tháng thứ ba kể từ khi về nhận chức, ông giám đốc của
chúng tôi bỗng nhiên mất tích. Không thấy ông ở nhà cũng như ở cơ
quan. Tất nhiên vợ con ông lo quýnh lên. Mãi đến gần tối ngày hôm
sau, khi lên khu kho trên tầng hai, ông trưởng phòng kinh doanh mới
vô tình phát hiện ra ngài giám đốc bị kẹt ở trên đó. Khu nhà kho rất ít
khi có người đến, nhưng ông nghe thấy có tiếng người. Thế là ông
vội báo tin cho mọi người biết. Chúng tôi tạm dừng mọi công việc lại,
chạy vội lên xem sự thể ra sao. Hoá ra ông giám đốc đi vào hành
lang khu nhà kho qua một cái cửa mà trên đó không treo một biển
cấm nào. Nhưng khi đi hết hành lang thấy có biển "Cấm không được
động vào, nguy hiểm". Thế là ngài giám đốc tội nghiệp của chúng tôi
hết đi tới lại đi lui dọc theo hành lang mà không thể thoát ra ngoài
được. Ông thèm thuốc muốn chết, nhưng khổ nỗi trên tường dọc hai
bên hành lang đều có treo biển cấm hút thuốc và vất đầu mẩu thuốc
lá hoặc diêm ra nền nhà, nên ông đành phải nhịn.
Chúng tôi bắt đầu nói qua cửa kính đóng kín:
- Ngài giám đốc, ngài leo lên cửa sổ rồi nhảy xuống. Chúng tôi
sẽ căng bạt, đón ngài sẵn ở dưới đất.
- Tôi không mở được cửa sổ, - ngài giám đốc trả lời. - Trên cửa
sổ có treo biển cấm mở.
Ông còn nói thêm một vài câu gì đó nữa, nhưng không nghe rõ
ông nói gì.
- Ông ấy nói rằng ở ngoài hành lang có biển cấm nói to. - một
nhân viên áp sát tai vào cửa nói với mọi người.
Chúng tôi nghĩ mãi không tìm ra cách nào để cứu ông giám đốc
của mình.
- Ông ấy thà chịu chết chứ nhất quyết không chịu phạm điều
cấm, - một nhân viên vốn hiểu rất rõ người giám đốc của mình, nói:
Nhưng rồi vị giám đốc đã tự tìm ra lối thoát cho mình.
- Hãy bảo người thợ làm ngay biển tên "Lối ra không cấm", ông ra lệnh khe khẽ.
Mệnh lệnh được thực hiện, rất nhanh chóng. Chúng tôi chuồn
tấm biển tên mới dưới cánh cửa cho giám đốc. Ông treo cẩn thận
biển tên lên trên cánh cửa phía trong, rồi mới quyết định mở cửa
bước ra ngoài.
- Đấy, các anh thấy không, - ông nói giọng giáo huấn, - các điều
cấm quan trọng đến dường nào. Nếu như cánh cửa này treo biển
"Cấm vào" thì tôi chẳng bước vào đây làm gì và tránh được biết bao
điều phiền toái khó chịu. Tất cả tai hoạ là ở chỗ không có biển cấm
này.
Vừa mới thoát ra được ngoài, giám đốc liền ra lệnh bịt kín lối
vào hành lang bất hạnh này.
Thật may phúc, ngài giám đốc còn chưa kịp nghĩ ra việc treo
biển "Cấm ra" trong nhà tiêu.
Toàn bộ cơ quan chúng tôi chỗ nào cũng treo nhan nhản những
tấm biển cấm không còn một chỗ trống nào. Nếu một hôm nào đó,
có ai trong số chúng tôi không về nhà thì gia đình chớ có lo sợ thái
quá. Chỉ đơn giản là do chúng tôi bị sa vào cái bẫy cấm kỵ nào đó
thôi mà.
Ôi, thương thay giống con lừa chúng tôi
Ôi cái thân lừa chúng tôi! Ôi, thật đáng thương cái thân lừa!...
Về câu chuyện này ký ức của chúng tôi hãy còn tươi mới: Giống
như loài người các anh bây giờ, khi ấy bộ tộc lừa chúng tôi cũng có
tiếng nói riêng của mình. Tiếng nói của chúng tôi mới tuyệt vời làm
sao! Đó là những âm thanh trầm bổng, du dương, ngọt ngào. Đó là
một thanh âm nhạc sống động, không thể nào nói khác đi được. Mỗi
khi chúng tôi cất tiếng nói là cả thiên hạ phải lắng tai nghe. Đương
nhiên thời ấy chúng tôi có rống lên như bây giờ đâu. Ngày nay
chúng tôi phải tìm cách dùng tiếng rống của mình để thể hiện mọi
ước mong, tình cảm, ý nghĩ và thậm chí cả những nỗi đau khổ nữa.
Nhưng thật khó có thể diễn đạt được nhiều điều bằng hai âm tiết "í a, í - a" Than ôi, cả một tiếng nói giầu có, phong phú đến thế, nay
chỉ còn sót lại hai âm tiết thô thiển này.
Kể đến đây chắc các bạn nóng lòng muốn biết điều gì đã xảy ra
làm cho tiếng nói của họ nhà lừa chúng tôi bị chết. Đó là một sự kiện
khủng khiếp mà tôi sẽ kể dưới đây cho các bạn nghe. Sự kiện ấy đã
cưới đi trí nhớ của chúng tôi, và thế là chúng tôi bỗng quên hẳn
tiếng nói của mình.
Hôm ấy một cụ tổ lừa cao niên đang gặm cỏ ngoài đồng. Cụ lừa
thong thả bứt từng sợi cỏ và thi thoảng ngân lên những khúc ca nhỏ
dịu dàng. Bỗng nhiên cụ ngửi thấy một mùi nồng nặc hết sức khó
chịu - mùi của chó sói.
Các mùi hôi thối ấy mỗi lúc một tăng lên, nghĩa là cái chết mỗi
lúc một đến gần. Thế nhưng cụ lừa vẫn một mực tự nhủ:
- Không phải chó sói! Làm sao có thể lại là sói được !
Nỗi khiếp sợ làm trái tim cụ đau thắt lại, nhưng cụ vẫn làm ra vẻ
bình tĩnh và lẩm bẩm không dứt:
- Cầu trời, không phải chó sói. Ở đây tìm đâu ra chó sói mới
được chứ!
Bỗng cụ nghe thấy tiếng gừ gừ. Đúng là tiếng gừ chó sói, cái
thứ tiếng thật nhức nhối, nâng nể vô cùng. Cụ lừa vểnh tai lên nghe
ngóng căng thẳng, nhưng vẫn giữ giọng cũ:
- Không phải sói đâu! Tiếng gừ này không phải của chó sói.
Trong khi đó tiếng gầm gữ đã ở gần bên. Cụ lừa hoảng hồn liền
quay lại và nhìn thấy trên đỉnh gò đất bên cạnh bóng một con sói mờ
mờ trong màn sương dày đặc.
- Không phải sói đâu. Có là lẽ một bụi cây thôi mà - cụ tự trấn
an, - ta cứ việc gặm cỏ, không việc gì phải sợ.
Một thoáng sau con sói vụt chạy ra từ bụi cây.
Cụ lừa sợ quá, người run lên cầm cập, nhưng vẫn không hề
muốn tin rằng đó là sói thật.
- Làm gì có sói ở đây? Chẳng qua mắt mình kém quá rồi, nhìn
bụi rậm hoá thành chó sói.
Con sói mỗi lúc tiến lại gần hơn. Cụ lừa sợ thót tim.
- Ôi, trời đất ơi! Chẳng lẽ lại là sói thật? Không không thể thế
được, - cụ rên rỉ, đau đớn. - Có lẽ là lạc đà đấy thôi. Hay là một con
gì khác. Mà làm sao lúc nào mình cũng chỉ nghĩ đến chó sói nhỉ?
Chó sói chỉ còn cách cụ lừa ba bước, nó nhe răng và chực xông
vào con mồi. "Không phải chó sói. Mình tin rằng không phải chó sói,
nhưng tốt hơn hết là nên biến khỏi đây", cụ lừa nghĩ thế và phóng
chạy. Chó sói lao theo, rớt rãi đầy miệng.
Cụ lừa tăng tốc phóng nhanh như gió. Chó sói bám sát, không
rời một bước.
" Không, không phải sói đâu. Chỉ là mèo rừng thôi". - Cụ lừa
nghĩ bụng và ngoái cổ lại. Hai con mắt sói sáng rực như hai cục than
hồng, hơi thở của sói phả ra nóng rát ngay sát cạnh đuôi. Đã đến
thế mà cụ lừa vẫn không muốn tin rằng đó là chó sói. Cuối cùng cụ
phải dừng lại vì kiệt sức. Cụ nheo mắt và chờ đợi cái gì sẽ tới, bụng
bảo dạ:
- Không phải sói đâu. Cầu trời mong cho không phải sói.
Con sói lao vào người cụ, quật cụ xuống đất.
- Tôi biết, anh không phải là sói - cụ lừa kêu lên. - Anh đừng cù
tôi thế. Tôi không thích cù đâu.
Con sói cắn phập hai hàm răng vào mông cụ lừa, giật ra một
tảng thịt lớn.
Lúc này cụ mới hiểu ra rằng tình thế đã nguy nan lắm rồi. Vì
kinh sợ quá cụ quên hẳn tiếng nói của mình. Cụ không còn nhớ nổi
một tiếng lừa nào nữa.
Còn chó sói thì liên tiếp nhảy xổ vào cắn xé cụ. Máu cụ lừa tuôn
ra như suối. Lúc bấy giờ cụ mới kêu lên:
- A-a-a! Hoá ra là sói. Thế mà... thế mà... tôi không tin.
Chó sói rứt từng miếng thịt cụ. Cụ lừa rên rỉ oán thán:
- Thế ra... thế ra...
Tiếng kêu đau đớn đó của cụ lừa vang vọng khắp chốn rừng
xanh, tất cả họ nhà lừa chúng tôi đều nghe thấy rõ. Từ đó cả họ nhà
lừa chúng tôi quên mất tiếng nói của mình, chỉ còn biết dùng tiếng
rống để diễn tả mọi ý nghĩ tình cảm mà thôi. Giá như cụ lừa chúng
tôi không tự dối lòng mình khi tai hoạ ập đến, thì bây giờ chúng tôi
vẫn còn tiếng nói riêng của mình.
Ôi, thương thay cho cái thân lừa chúng tôi. Ôi, thương thay cho
bộ tộc nhà lừa... í - a, í - a, í - a!
Đây là cái gì?
Các bạn đã bao giờ chứng kiến cảnh người ta bị phát bệnh điên
như thế nào chưa? Tôi đã thấy rồi.
Ồ, đó là một người có thần kinh vững chắc vô cùng, có học
thức và có văn hoá. Con người tội nghiệp đó bị phát điên ngay trước
mắt tôi.
Câu chuyện xảy ra cách đây hai năm. Vợ chồng tôi được một
người bạn tôi kéo đến dự bữa ăn tối với những người muốn được
làm quen với vợ chồng tôi. Trước sự nài nỉ khẩn khoản của anh, tôi
đành nhận lời. Thế là chúng tôi có mặt trong đám khách không quen
biết.
Tôi vốn không thích những cuộc làm quen như vậy, bởi lần đầu
tiên đến những nơi không quen, tôi thường cảm thấy lúng túng, khó
xử và cái bộ mặt lạnh lùng của tôi thường ảnh hưởng đến tất cả
những người xung quanh. Thậm chí căn phòng nơi tôi đến, lập tức
biến thành một nơi như có đặt thiết bị làm lạnh.
Vợ chồng chủ nhà mời tôi hoá ra là những người dễ mến hiếm
có. Họ cố gắng tìm mọi cách làm cho chúng tôi vui.
Đến sau chúng tôi còn có một số khách nữa; hai phụ nữ và
những người đàn ông. Bà chủ nhà mến khách mời chúng tôi uống
khai vị trước bữa tối.
Những người khách mới đến làm không khí trong phòng khách
bớt lạnh nhạt đi một chút. Nhưng chỉ một lúc sau chính họ lại luồng
hơi lạnh phả ...
Truyện cười Azit Nêxin - Xin ch-ào-ào!
Tác giả: Azit Nêxin
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Diễn đàn Tinh Tế
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.html
OPDS catalog :
http://dl.dropbox.com/u/46534480/library/_catalog/index.xml
Mọi chuyện bắt đầu từ đôi tất
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Câu chuyện sau xảy ra khi tôi còn trẻ, vào năm tôi vừa mới đi
làm. Văn phòng nơi tôi được nhận vào làm anh công chức cấp thấp
nhất do ông Axưm phụ trách. Đó là một người đàn ông đứng tuổi
tính tình cởi mở và đôn hậu. Nhân viên văn phòng gọi ông bằng ngài
Axưm. Nhưng trong các cuộc trò chuyện không chính thức bao giờ
họ cũng gọi ông bằng một biệt "Axưm - cho cả thế giới". Tôi cũng
không hiểu ông có thích hay không cái biệt danh lạ tai này.
Người tỉnh lẻ thường hay sống tập trung không ở phân tán rải
rác xa nhau như dân các thành phố lớn. Vậy nên mọi người đều biết
rõ về nhau. Một lần tôi hỏi các đồng sự về nguồn gốc của các biệt
danh trên:
- Chuyện này cậu nên hỏi chính chủ thì hơn - một đồng sự nói
với tôi thế.
- Không ai kể chuyện này hay hơn ông ấy - ông khác bổ sung
thêm.
Tôi chỉ biết một điều là trước khi về sở này có một thời ông đã
ông từng là một viên chức cao cấp ở Stambun.
Sau khi đi làm được một năm, tôi quyết định lấy vợ. Gia đình
nhà gái muốn tổ chức cưới ngay và gộp cả lễ đính hôn và lễ cưới
làm một luôn thể. Sở dĩ bố mẹ vợ tương lai giục tôi cưới nhanh là
bởi ở chốn tỉnh lẻ này quan hệ bạn bè nam nữ dễ nẩy sinh ra lắm
chuyện dèm pha, phá thối. Trong khi đó thì thực sự chúng tôi chưa
hiểu nhau kỹ. Chẳng hạn tôi chưa thể biết được tính tình và những
thói quen của cô ấy ra sao.
Tin đồn về đám cưới sắp tới của chúng tôi lan nhanh khắp thị
xã. Một lần tôi lên phòng sếp để xin chữ ký, ngài Axưm bỗng bất
ngờ hỏi tôi:
- Nghe nói cậu sắp cưới vợ?
- Thưa ngài đúng ạ!
Ông nhìn tôi bên trên cặp kính:
- Gia đình cô ấy thuộc loại nào?
- Dạ thưa ngài, tôi chỉ biết sơ sơ rằng gia đình cô ấy vào loại
bậc trung.
- A - ha - a - ả - ông kéo dài giọng, rồi bất ngờ mời tôi:
- Nếu chiều nay cậu rỗi, tôi mời cậu cùng đi ăn tối.
Tôi cảm ơn sếp và chúng tôi hẹn gặp nhau ở một nhà hàng nọ.
- Chắc cậu đã biết người ta gọi mình bằng biệt danh "Axưm cho
cả thế giới" rồi chứ? - ông hỏi tôi sau khi cả hai vừa uống xong ly
rượu khai vị.
- Cậu không phải băn khoăn! Tôi sẽ kể cho mà nghe... Chỉ có
điều là trước tiên cậu hãy nói cho tôi biết, cô gái ấy là người như thế
nào đã.
Như tôi đã thú nhận, câu hỏi này đối với tôi rất khó trả lời, nên
tôi đành im lặng. Thấy thế ngài Axưm liền gỡ bí cho tôi.
- Vậy là cô ta xuất thuân từ một gia đình không giàu có... Một cô
gái giản dị. Điều này làm anh vừa ý. Và tất nhiên anh tin rằng mình
có thể cho cô ta tất cả những gì cần thiết, miễn là để cô ấy hạnh
phúc. Có phải thế không nào?
- Dạ, vâng đúng thế ạ! - Tôi khẳng định.
- Đó, vấn đề là ở chỗ ấy đấy! - Ông gật đầu tán thưởng. - Khi
xưa mình cũng suy nghĩ y hệt như cậu bây giờ... Nhưng thôi, dù sao
chăng nữa, xin chúc mừng hạnh phúc cậu! - Ông rót đầy hai li rượu,
chúng tôi cụm li, cạn chén.
Còn bây giờ, - ông nói tiếp và nhìn như xoáy vào tôi, - cậu hãy
nhớ cho kỹ lời khuyên của tôi. Chỉ mua cho vợ những đôi tất chân
mà cô ấy vẫn dùng khi ở với bố mẹ đẻ. Nghĩa là phải chọn mua
đúng loại, cùng giá cùng chất lượng, cấm kỵ không được mua loại
tất nào khác! Chớ vội tặng nàng cả thế gới, nếu không hỏng bét,
như tôi đã vấp phải. Tôi biết, giờ thì cậu bỏ ngoài tai những lời vớ
vẩn này. Mà cũng đúng thôi, ông ấy làm ra vẻ quan trọng, tại sao ta
không mua nổi được vài đôi tất chân đắt tiền? Nhưng xin cảnh tỉnh
cậu trước, mọi chuyện sẽ bắt đầu từ đôi tất chân này. Bởi vì có tất
rồi thì phải có giày, tất đẹp đi với giầy đẹp. Có giầy đẹp rồi thì phải
có váy đẹp. Váy đẹp phải đồng bộ với sơ mi đẹp... Cứ thế nhu cầu
đẹp cứ tăng lên mãi không cùng. Kết cục sẽ đi đến đâu, cậu có biết
không... Sẽ có ngày cậu mất vợ lúc nào không biết.
Trước kia khi mới đi làm, mình cũng là anh viên chức quèn như
cậu bây giờ. Mình đắn đo mà không dám lấy vợ, vì sợ rằng với đồng
lương còm ấy, cưới nhau rồi lấy gì mà sống... Thế là mình cứ sống
độc thân mãi. Rồi dần dần ngạch bậc được thăng trật, đồng lương
cũng khá hơn. Đâu đến gàn bốn mươi tuổi mình đã mua được một
căn hộ nhỏ xinh xinh, ấm cúng. Lúc này đã có thể nghĩ đến chuyện
lấy vợ. Tôi quyết định chọn một cô gái con nhà nghèo, với ước
muốn làm thoả mãn cô ấy bằng những gì mình có và như thế cô ấy
sẽ mang ơn suốt đời!
Cô gái mà tôi chọn tên là Xabikha, năm ấy hai mươi mốt tuổi.
Mặc dù sinh ra trong một gia đình nghèo, nhưng cô ấy đã học xong
phổ thông trung học. Cô ta không đẹp như có nét mặt chất phác, dễ
thương... Xabikha không có của hồi môn, không sao, tôi hoàn toàn
có thể tặng nàng mọi thứ, tôi sẽ tặng nàng cả thế giới này! Nhưng
nàng lại từ chối tất cả: khi tôi gợi ý mua quần áo mới cho Xabikha thì
cô ấy nói rằng: "Em vẫn đủ mặc"; còn nói tới son phấn thì cô ấy bảo
"Phụ nữ không phải là con búp bê"; tôi định mua vòng đeo tai thì cô
ấy chối; "Em không phải tên cướp biển mà phải đeo các loại vòng ở
hai tai..." Đây, Xabikha của tôi là như thế đó. Tôi nở gan nở ruột vì
nàng.
Nửa năm đã trôi qua kể từ ngày chúng tôi cưới nhau. Một lần
hai vợ chồng chúng tôi đi chơi, ghé vào một cửa hàng, tôi rất muốn
mua cho nàng một đôi tất mới rất đẹp và đắt tiền. Vẫn như mọi khi,
cô ấy nói: "Không cần mua nữa, em có hai đôi tất rồi". Hai đôi thì
nghĩa lý gì" Thằng đàn ông như anh ít ra cũng có tới mười đôi tất
chân cơ mà. Nàng nghe ra, đồng ý để tôi mua. Tôi chọn hai đôi đắt
tiền nhất. Ôi, nàng sung sướng muốn trào nước mắt. Tôi thấy vui lây
trước ánh mắt rạng rỡ của nàng.
Nào xin mời cạn chén... chúc sức khoẻ cậu.
Phải đến hai tháng sau tôi vẫn không thấy nàng đi tất mới! Hỏi
ra mới biết, tất mới không hợp với đôi giày cũ, còn tất cũ thì rách hết
rồi... "Thế mà em cứ lặng im không nói là làm sao?" cô ấy đáp lại
rằng, em không tiện nói về việc này. Thế là tôi phải ép cô ấy cùng đi
đến hiệu giầy mua đôi giày đẹp nhất. Nhưng do vụng về tôi không
đoán ra được đôi giầy mới không thích hợp với bộ váy áo cũ của cô
ấy. Phải gần một tuần sau Xabikha mới bối rối nói ra điều ấy. Thế là
dần dần phải mua mới toàn bộ từ váy, áo, áo khoác, mũ cho cô ấy.
Tuy vậy, phải thừa nhận rằng sở dĩ tôi đoán ra được Xabikha cần cái
gì nữa là căn cứ những lời nói xa xôi về tổng thể; về sự hài hoà của
nàng.
Nhưng không lâu sau lại thấy cô ấy rất buồn bã. "Em thân yêu
ơi, em hãy nói đi, làm sao mà em buồn thế?". "Em xấu hổ quá, anh
yêu quý ơi.. Nhưng có phải em muốn thế đâu... Tất cả là do anh nài
ép em đi mua những thứ quần áo giầy dép này, chứ thực ra em
chẳng cần gì cả... Nhưng giờ thì em không biết nên nói thế nào với
anh? Chắc hẳn anh biết ngạn ngữ "Đã thương thì thương cho trót..."
Anh biết đấy đồ lót của em không hợp với váy áo, com lê mới mặc
ngoài.
Ôi, chúa ơi, quả thật không ngờ. Nhưng, nếu như trong số biết
bao nhiêu cô gái, tôi chỉ chọn được mình Xabikha để mà tặng cả thế
giới thì mắc mớ gì mà tôi không mua nổi đồ lót hợp mốt với trang
phục bên ngoài của nàng? Hơn thế nữa tôi đã thuyết phục bằng
được để cô ấy mặc xu - chiêng cơ mà? Trước kia cô ấy có ý dùng
thứ ấy bao giờ đâu... Sau vụ đồ lót, Xabikha lại phàn nàn về tóc tai
của mình. Lúc đầu tôi cứ tưởng cô ấy muốn mua tóc giả cho phù
hợp với khuôn mặt và dáng người, nhưng mãi sau mới rõ cô ấy chỉ
muốn làm lại đầu cho hợp mốt...
Thời gian trôi qua, một buổi tối Xabikha mở đầu câu chuyện
thường nhật: "Anh ơi, quả là em không muốn... Hơn nữa em có cần
gì đâu. Mọi thứ anh đều mua cho em..." "Tất nhiên, tất nhiên thế, em
yêu quý ơi, - tôi trả lời - Giờ em còn cần gì nữa thì hãy nói luôn" "không, em không cần gì nữa, đầu tóc, ăn mặc, giầy dép thế là tuyệt
lắm rồi... Nhưng anh hãy để ý đến căn hộ của chúng ta mà xem.
Chúng ta đang sống trong căn phòng tồi tàn cũ nát chẳng ra sao
cả". Tôi đảo mắt một lượt khắp gian phòng: cô ấy nói đúng.
Đồ gỗ bài trí trong nhà quá thô kệch, không hài hoà với bộ trang
phục đắt tiền mà cô ấy đang mặc trên người.
Mà thôi, sao tôi kể lể dài dòng đến vậy. Xin mời cậu cạn chén!
Phần sau của câu chuyện không còn dài nữa đâu, một vài câu nữa
là xong.
Sắm xong đồ gỗ, cô ấy lại đòi mua ti vi (trong khi đó khi còn
sống với bố mẹ đẻ, cô ấy chưa biết đài thu thanh là gì). Đương
nhiên cô ấy vẫn luôn biện bạch rằng, riêng em thì chẳng cần gì... Cái
chính là để cho hài hoà, tổng thể, cân xứng. Sau đấy chắc cậu cũng
đoán ra, cô ấy phàn nàn căn hộ chật hẹp, tối tăm. Đến lúc này vì
phải chi phí quá nhiều tôi bắt đầu bị túng bí. Cũng còn may là tôi
được đánh giá tốt nên vẫn được cất nhắc chức vụ đều đều... Và rồi
chúng tôi cũng mua được căn hộ vừa ý trong một khu phố lịch sự.
Nếu như tôi đã từng muốn tặng nàng cả thế giới thì hà cớ gì mà tôi
lại không làm thủ tục giấy tờ sở hữu căn hộ mang tên nàng? Tiếp
theo sau nữa là gì? Hoá ra cư dân của khu phố này đều có xe hơi
riêng. Đó chính là sự hài hoà đích thực với con phố, với những toà
nhà sang trọng. Vì thế tôi cũng mua một chiếc xe con, và đương
nhiên là tôi mua cho Xabikha chứ không phải cho tôi.
Cuối kỳ cùng thì tôi mới ngã ngửa ra rằng mặc dù chính tôi là
người tạo ra cho nàng toàn bộ sự "hài hoà" từ đầu đến chân, từ nhà
đến xe, tạo ra toàn bộ khối "tổng thế" ấy, nhưng chính tôi lại bị đánh
bật ra khỏi nó bởi tôi không "hài hoà" trong cái "tổng thể" mới này.
Thế đấy, mọi chuyện bắt đầu từ một đôi tất chân.
Cấm
Sở chúng tôi nhiều năm vẫn làm việc trong một ngôi nhà cũ dột
nát, ván sàn mục ruỗng, ọp ẹp, gác thượng chuột kêu chí choé suốt
ngày. Giữa lúc chúng tôi chán ngán nhất thì đùng một cái được
chuyển sang nhà mới, nên ai cũng cảm thấy sướng như tiên. Mặc
dù cửa kính bám vôi, sàn nhà vương vãi phôi bào, cám cưa và vữa
xi măng, chúng tôi hò nhau xắn tay áo lên cùng nhau lau chùi, dọn
dẹp chẳng mấy chốc mà xong. Mọi người xoa tay hả hê sắp xếp chỗ
làm việc mới.
Khi chuyển sang chỗ mới không có sự thay đổi nào về nhân sự,
duy chỉ có việc thuyên chuyển ngài giám đốc sang một sở khác.
Giám đốc mới về thay, trước khi đến sở chúng tôi, đã nổi tiếng là
một người hết sức nghiêm khắc
Giám đốc mới là một người cao lêu đêu, khô gầy như que củi.
Mái tóc ông cắt ngắn ngủi, ánh mắt nhìn sắc như dao cạo. Có cảm
giác như ánh mắt ấy xuyên thủng người cấp dưới.
Bắt đất làm nhiệm vụ, giám đốc ban bố một mệnh lệnh gồm
mười bốn mục. Một trong những mục đó có nêu rõ: "Mọi người phải
chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh. Tất cả các điều cấm phải thực
hiện triệt để nhất.. Chỉ có kỷ luật chặt chẽ mẫu mực mới có thể dẹp
tan được dư luận không hay mà dân chúng vẫn truyền khẩu nhau
bằng câu ngạn ngữ: "Lệnh cấm ban ra, ba ngày hết thiêng". Câu nói
độc hại này do kẻ thù trong nước đặt ra để làm tê liệt tinh thần cảnh
giác của chúng ta.
Sau khi nghiên cứu xong nội dung các mục, tôi và các đồng sự
phải ký tên vào dưới bản mệnh lệnh. Vào giờ đầu buổi chiều, bản
mệnh lệnh lại được mang đến. Hoá ra, tôi quên không viết chữ "đã
đọc" và đề ngày tháng phía dưới. Lập tức chúng tôi hiểu rằng đừng
có mà đùa với vị sếp mới của sở. Tiếng dữ đồn xa, chỉ mới nghe
thấy sếp ngoài hành lang, chúng tôi đã bắt đầu run lên cầm cập.
Ngài giám đốc mới bắt đầu hoạt động một cách hết sức ráo riết.
Hết mệnh lệnh này đến chỉ thị khác tới tấp gửi xưống cho chúng tôi
thực hiện. Các tấm biển mới được treo lên dồn dập. Sở đã thuê
riêng một người ngoài thành phố vào làm những tấm biển tên này.
Chỗ làm việc của anh ta được bố trí ở chân cầu thang, cạnh cửa
chính của cơ quan. Vừa mới tới chỗ làm, anh ta bắt tay ngay vào
công việc, vì cơ quan khoán gọn tiền công. Ngay cổng cơ quan đã
có một biển to bằng đồng ghi đầy đủ tên cơ quan, ngoài ra trên cửa
các phòng ban đều đã treo các biển tên rồi, do vậy chúng tôi nóng
lòng chờ đợi xem người thợ sẽ làm thêm những biển tên nào.
Gần hết giờ làm việc anh ta đã làm được mười biển tên có cùng
một dòng chữ đen trên nền trắng "Cấm ngắt hoa".
Nhìn thấy những tấm biển này chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau.
Ngôi nhà mới của chúng tôi nằm giữa một khu hoang vắng, khô cằn.
Trong khuôn viên cơ quan không nói gì đến hoa mà cả những bụi
lúp xúp, cây hoang cỏ dại, tịnh không hề có một thứ gì. Ba ngày liền,
người phụ chỉ làm độc mỗi biển tên này. Sang ngày thứ tư mới xuất
hiện biển mới "cấm mang theo chó vào công viên". Thấy thế chúng
tôi lại càng ngạc nhiên hơn. Sân cơ quan chúng tôi được rào bằng
dây thép gai. Đất khu vực này rất xấu, lại khô cằn, cỏ không mọc
nổi, đây đó vài ba khóm cúc gai, tầm ma mọc hoang. Vậy công viên
ở đâu?
Ngài giám đốc thân chinh chỉ huy việc đặt các biển tên này ở
sân cơ quan, ông sửa đi chỉnh lại cho thật ngay ngắn, đẹp đẽ.
Người thợ vẫn mải miết tiếp tục công việc của mình. Lại xuất
hiện biển tên mới: "Cấm xe ô tô vào công viên" Cái biển này lại càng
kỳ quặc hơn nữa! Hàng rào dây thép gai xung quanh sân chỉ lựa
một lối vào đây được mà cấm?
Sáng hôm sau mới thực sự bất ngờ. Dọc theo suốt hàng rào cứ
cách ba - bốn mét một lại có một biển tên: "Đề phòng rách quần áo.
Cấm không đến gần hàng rào thép gai".
Cánh nhân viên chúng tôi thi nhau đoán già đoán non ý định
của sếp chúng tôi. Một số người cho rằng ông chuẩn bị xây dựng
công viên. Số người khác lại nói: "Có mà rỗi hơi trồng hoa ở đây.
Còn lạ gì dân xứ mình nữa. Bao nhiêu vườn hoa đều bị nhổ sạch,
ngắt sạch rồi". Số người thứ ba cũng tỏ ra không tán thành nhưng
nói nhỏ nhẹ hơn.
Đã mấy tuần trôi qua vẫn không thấy một khóm hoa nào được
trồng. Trong khi đó người thợ vẫn tiếp tục làm biển tên. Vào một
ngày kia, khi chúng tôi đến làm việc, thấy ở cửa chính treo biển tên
"Cấm vào". Không biết làm gì hơn, chúng tôi đi đến cửa thứ hai, ở
đó cũng treo biển tên như thế. Đến cửa thứ ba treo biển tên: "Cấm
vào ra cửa này".
Cả một đám đông nhân viên tụ tập cạnh ngôi nhà cơ quan.
- Thế nào các bạn, chúng ta đứng ngoài mãi thế này à? - Có ai
đó lên tiếng.
- Đành phải leo qua cửa sổ mà vào, - người khác đáp lại, giọng
than vãn.
Trèo vào nhà qua cửa sổ là một việc không có gì khó khăn. Một
người cúi xuống cho người khác trèo lên lưng, bám bệ cửa mà chui
vào, cứ thế lần lượt rồi cũng vào được nhà bằng hết. Nhưng nếu
ngày mai sếp lại ra lệnh treo biển cấm trèo lên cửa sổ thì làm thế
nào? Không thể chui trong ống thoát nước mà vào được!
- Không hơi đâu mà chú ý đến biển cấm, - có ai đó thốt lên - Cứ
cửa chính mà vào, thế là xong chuyện!
Tuy nhiên không ai hưởng ứng lời nói đó, mọi người đều sợ
ngài giám đốc. Tuần nào chúng tôi cũng phải ký tên vài lần dưới bản
mệnh lệnh của ông ấy, do vậy nỗi sợ hãi trước các điều cấm đã ăn
sâu vào trí óc chúng tôi.
Chúng tôi sẽ còn đứng vẩn vơ mãi ngoài phố, nếu như không
có các đồng sự đã vào được nhà gọi với ra bảo: "Phía sau nhà có
một cửa nhỏ. Hãy vào bằng cửa đó". Chiếc cửa nhỏ xíu trong như
cửa chuồng gà dẫn đến tầng trệt. Từ đó chúng tôi đi lên, về các
phòng làm việc của mình.
Sau đó mấy ngày ngài giám đốc cho triệu tập chúng tôi ở phòng
họp và ngài đã có lời phát biểu khá dài.
"Tất cả mọi điều rắc rối, - ngài giám đốc nói, - đều xuất phát từ
sự vi phạm các điều cấm. Trong bất kỳ trường hợp nào, kể cả ở tình
thế khó khăn nhất vẫn cần phải thực hiện nghiêm ngặt các mệnh
lệnh. Việc vi phạm mệnh lệnh sẽ làm mất uy tín và phá vỡ kỷ luật
của chúng ta".
Vào thời điểm này, người làm việc cần mẫn nhất trong cơ quan
chúng tôi là anh thợ sản xuất các biển tên. Chúng tôi quan sát anh
ta làm việc một cách hết sức hào hứng và tò mò. Thế là lập tức sau
đó trên đầu anh ta xuất hiện một tấm biển: "Cấm không được đến
gần và trò chuyện, làm xao lãng công việc".
Trong khi đó thì trong khuôn viên cơ quan bắt đầu xảy ra những
việc lạ lùng, thật là khó hiểu. Chẳng hạn như hôm trước vừa treo
biển "Cấm chó vào" thì hôm sau loài súc vật này vốn trước kia
chẳng hề lai vãng đến khu đất trống của cơ quan chúng tôi làm gì,
nay bỗng nhiên dắt díu nhau hàng đàn đến tụ tập, biến khu vực cấm
thành nơi hẹn hò tình tự của chúng.
Trên con phố dẫn đến cơ quan chúng tôi, hàng ngày nghe thấy
tiếng người gọi chó, và sau mỗi nhân viên của cơ quan thường thấy
vài ba chú khuyển bám theo. Hoá ra họ không tiếc tiền mua thịt và
xương để nhử chúng vào trong cơ quan.
Thậm chí tôi vốn là người không thích loài súc vật này cũng bắt
đầu thay đổi cách nghĩ. Tôi mua các miếng thịt vụn để nhử lấy một
vài con theo mình vào chỗ đất trống của cơ quan. Thế nhưng tìm
được chó để nhử ngày càng khó hơn. Hình như tất cả chúng đã "du
cư" vào sân cơ quan chúng tôi. Ở đây chúng tha hồ đùa giỡn, cắn
xé nhau và sủa ầm ĩ vang trời.
Trong một cuộc họp thường kỳ của cơ quan, sếp chúng tôi
tuyên bố.
- Như mọi người đã biết tôi đã ra lệnh cấm thả chó vào khu
vườn của cơ quan. Một số nhân viên chúng ta đã coi thường lệnh
cấm này. Nhưng tôi đã biết trước những gì sẽ xảy ra. Quả thực sự
tiên đoán đó đã được minh chứng.
Mặc dù đã có lệnh cấm mà chó vẫn vào đầy vườn, vậy thử hình
dung xem, nếu không có các biện pháp kịp thời thì việc này còn dẫn
đến đâu nữa. Đó, thêm một lần nữa khẳng định sự cần thiết của các
lệnh cấm.
Theo như lời ông giám đốc nói, thì suốt đời ông không bao giờ
vi phạm những điều cấm. Ông cho rằng đó chính là nguyên nhân
đảm bảo cho mọi thành công của ông trong công vụ.
Một thời gian sau, các khóm cúc gai bắt đầu nở những bông
hoa nhỏ mầu xanh sẫm. Nhân viên cơ quan kể cả những người xưa
nay vốn vẫn cố gắng chấp hành những điều cầm, nay cũng bắt đầu
hái trộm loài hoa trước kia không ai để ý đến này. Bàn tay họ bị gai
cứa sây sát y như mèo cào.
Cả cơ quan chỉ mỗi mình ông Burkhan, còn ba tháng nữa sẽ về
hưu là người duy nhất tránh được sự cám dỗ của hoa cúc dại một
thời gian. Ông vốn là người rất yêu hoa và thích trồng hoa ở nhà
mình. Nhưng cuối cùng ông không cưỡng lại được sự ham muốn
hái hoa cúc dại như mọi người. Một hôm tôi đến sở sớm hơn
thường lệ. Từ phòng làm việc nhìn ra cổng cơ quan, tôi bỗng thấy
ông Burkhan đang bước vào sân và xăm săm đi tới các khóm cúc
dại và tầm ma. Tôi đứng nép vào góc phòng, lăng lẽ quan sát xem
ông ấy làm gì. Ông Burkhan đưa mắt đảo quanh vẻ sợ sệt rồi mở
cặp lấy đôi găng tay da xỏ vào hai bàn tay và bắt đầu nhỏ những
khóm tầm ma.
Đến lúc này tôi mới biết tại sao tay ông không bị xây xước như
tay chúng tôi.
Còn sếp của chúng tôi thì vẫn dài giọng:
- Giờ thì các ông mới tin rằng tôi cấm hái hoa là đúng. Khi tôi ra
lệnh treo biển cấm, có người cười mỉa tôi, cho rằng làm gì có hoa
mà cấm hái. Đấy nhé, hoa cúc dại, hoa tầm ma còn hái trộm, huống
hồ nếu có vườn hoa tươi thắm ở đây thì sẽ ra sao!
Chúng tôi chỉ còn biết gật gù phụ hoạ theo sếp. Không ai dám
phản đối. Sếp nói đúng. Đối với cánh nhân viên chúng tôi không thể
làm khác được.
Trên là chuyện về biển cấm "Cấm cho chó vào" và "Cấm ngắt
hoa". Còn chuyện về biển cấm "Cấm không đến gần hàng rào dây
thép gai, đề phòng phòng rách quần áo" thì như thế này.
Tất cả nhân viên đều bị rách quần, rách áo. Sáng sáng vào giờ
đầu làm việc thường có những câu chuyện đại loại như:
- Này ông Akhmét, quần ông bị toạc miếng to, nhìn thấy cả
quần lót kia kìa.
- Vâng, ông Mekhmét, tôi bị hàng rào dây thép gai cào phải...
mà tay áo ông hình như cũng bị rách phải không?
- Tôi cũng bị dây thép gai cào.
Hai chúng tôi bảo nhau lấy kim băng gài tạm vào các chỗ rách
lại, để đến tối về nhà mới vá. Tôi chẳng còn bộ com lê nào lành lặn
cả. Cứ mỗi lần nhìn thấy biển cấm với dòng chữ "Cấm đến gần..." là
lập tức trong lòng tôi lại sục sôi ý muốn vi phạm điều cấm này bằng
được. Và mỗi lần vi phạm, nếu không bị rách áo thì cũng rách quần.
Phần lớn các cộng sự của tôi đều nhảy qua hàng rào dây thép gai
này. Chỉ có những nhân viên lớn tuổi mới chịu đi theo lối nhỏ len lỏi
trong hàng rào. Riêng ông Burkham không chịu đi cùng đường với
các bạn già mà lại muốn thử sách nhảy qua được hàng rào, còn
người thì bị treo lơ lửng trên không, y hệt như súc thịt nguyên con,
treo trong quầy hàng thực phẩm. Khi chúng tôi gỡ ông xuống được,
thì quần áo trên người ông không còn mảnh nào lành cả.
Sân cơ quan chúng tôi đáng lẽ phải trồng hoa giờ đây biến
thành chỗ để xe nôi trẻ em, xe cút kít, xe đạp chật ních, chó không
có chỗ mà chạy. Xe con đến cơ quan làm việc không qua lọt chiếc
cổng hẹp, đành đậu thành dãy ngoài phố!
Người thợ làm biển tên vẫn tiếp làm việc. Ngày nào giám đốc
cũng nghĩ ra được những bảng cấm mới. Sau tấm biển "Cấm không
mở cửa sổ" là những biển mới: "Cấm vào", "Cấm ra", "Cấm nhổ
bậy", "Cấm vứt đầu mẩu thuốc lá", "Người ngoài cấm vào", "Cấm
hút thuốc", "Cấm hút thuốc", "Cấm ngồi trên những chiếc ghế này",
"Cấm nói to", "Cấm chạm vào hộp cầu chì, nguy hiểm", Cấm ngặt
viết vẽ lên tường".
Số biển tên được sản xuất tăng nhanh với tốc độ khủng khiếp.
Chẳng bao lâu sau một nửa, tiếp đến ba phần tư số phòng chúng tôi
không được phép sử dụng. Số biển cấm có nội dung kỳ quặc ngày
càng xuất hiện nhiều hơn. Chẳng hạn trên cửa các phòng vệ sinh
xuất hiện các tấm biển: "Không có việc cấm vào". Từ ngày treo biển
cấm này, không hiểu sao tất cả các hố xí suốt ngày lúc nào cũng có
người ngồi trong. Không rõ tấm biển này do giám đốc ra lệnh treo
lên, hay một nhân viên nào đó nghĩ ra trò tinh nghịch này. Trên cửa
phòng làm việc của giám đốc có treo năm tấm biển. Một trong số đó
có tấm biển "Cấm nhổ bậy".
Các phòng làm việc của cơ quan đều sáng sủa, nhưng bên trên
mỗi bảng công tắc điện đều treo tấm biển "Không bật đèn vào ban
ngày", chính vì vậy mà các bóng điện cứ sáng đều từ sáng cho đến
tối và từ tối cho đến sáng. Chúng chỉ không sáng cho đến khi bị
chập mạch, cháy bóng. Trên nắp hộp cầu chì có biển cấm "Không
chạm vào hộp nguy hiểm", thì nhân viên lại càng "tích cực" động
chạm vào hộp, ai muốn chọc ngoáy thế nào, lúc nào cũng được.
Trên sàn nhà và trên hành lang đầu mẩu thuốc lá vương vãi khắp
nơi. Một lần nhìn thấy một ông khách ăn mặc sang trọng nhổ nước
bọt ra sàn nhà, tôi liền chỉ lên tấm biển và hỏi với giọng bực bội:
- Ông có biết chữ hay không đấy?
- Xin thứ lỗi cho tôi, - ông khách đáp với giọng ngượng ngùng. Tôi chỉ muốn nhử thử một bãi xem thế nào.
Sang tháng thứ ba kể từ khi về nhận chức, ông giám đốc của
chúng tôi bỗng nhiên mất tích. Không thấy ông ở nhà cũng như ở cơ
quan. Tất nhiên vợ con ông lo quýnh lên. Mãi đến gần tối ngày hôm
sau, khi lên khu kho trên tầng hai, ông trưởng phòng kinh doanh mới
vô tình phát hiện ra ngài giám đốc bị kẹt ở trên đó. Khu nhà kho rất ít
khi có người đến, nhưng ông nghe thấy có tiếng người. Thế là ông
vội báo tin cho mọi người biết. Chúng tôi tạm dừng mọi công việc lại,
chạy vội lên xem sự thể ra sao. Hoá ra ông giám đốc đi vào hành
lang khu nhà kho qua một cái cửa mà trên đó không treo một biển
cấm nào. Nhưng khi đi hết hành lang thấy có biển "Cấm không được
động vào, nguy hiểm". Thế là ngài giám đốc tội nghiệp của chúng tôi
hết đi tới lại đi lui dọc theo hành lang mà không thể thoát ra ngoài
được. Ông thèm thuốc muốn chết, nhưng khổ nỗi trên tường dọc hai
bên hành lang đều có treo biển cấm hút thuốc và vất đầu mẩu thuốc
lá hoặc diêm ra nền nhà, nên ông đành phải nhịn.
Chúng tôi bắt đầu nói qua cửa kính đóng kín:
- Ngài giám đốc, ngài leo lên cửa sổ rồi nhảy xuống. Chúng tôi
sẽ căng bạt, đón ngài sẵn ở dưới đất.
- Tôi không mở được cửa sổ, - ngài giám đốc trả lời. - Trên cửa
sổ có treo biển cấm mở.
Ông còn nói thêm một vài câu gì đó nữa, nhưng không nghe rõ
ông nói gì.
- Ông ấy nói rằng ở ngoài hành lang có biển cấm nói to. - một
nhân viên áp sát tai vào cửa nói với mọi người.
Chúng tôi nghĩ mãi không tìm ra cách nào để cứu ông giám đốc
của mình.
- Ông ấy thà chịu chết chứ nhất quyết không chịu phạm điều
cấm, - một nhân viên vốn hiểu rất rõ người giám đốc của mình, nói:
Nhưng rồi vị giám đốc đã tự tìm ra lối thoát cho mình.
- Hãy bảo người thợ làm ngay biển tên "Lối ra không cấm", ông ra lệnh khe khẽ.
Mệnh lệnh được thực hiện, rất nhanh chóng. Chúng tôi chuồn
tấm biển tên mới dưới cánh cửa cho giám đốc. Ông treo cẩn thận
biển tên lên trên cánh cửa phía trong, rồi mới quyết định mở cửa
bước ra ngoài.
- Đấy, các anh thấy không, - ông nói giọng giáo huấn, - các điều
cấm quan trọng đến dường nào. Nếu như cánh cửa này treo biển
"Cấm vào" thì tôi chẳng bước vào đây làm gì và tránh được biết bao
điều phiền toái khó chịu. Tất cả tai hoạ là ở chỗ không có biển cấm
này.
Vừa mới thoát ra được ngoài, giám đốc liền ra lệnh bịt kín lối
vào hành lang bất hạnh này.
Thật may phúc, ngài giám đốc còn chưa kịp nghĩ ra việc treo
biển "Cấm ra" trong nhà tiêu.
Toàn bộ cơ quan chúng tôi chỗ nào cũng treo nhan nhản những
tấm biển cấm không còn một chỗ trống nào. Nếu một hôm nào đó,
có ai trong số chúng tôi không về nhà thì gia đình chớ có lo sợ thái
quá. Chỉ đơn giản là do chúng tôi bị sa vào cái bẫy cấm kỵ nào đó
thôi mà.
Ôi, thương thay giống con lừa chúng tôi
Ôi cái thân lừa chúng tôi! Ôi, thật đáng thương cái thân lừa!...
Về câu chuyện này ký ức của chúng tôi hãy còn tươi mới: Giống
như loài người các anh bây giờ, khi ấy bộ tộc lừa chúng tôi cũng có
tiếng nói riêng của mình. Tiếng nói của chúng tôi mới tuyệt vời làm
sao! Đó là những âm thanh trầm bổng, du dương, ngọt ngào. Đó là
một thanh âm nhạc sống động, không thể nào nói khác đi được. Mỗi
khi chúng tôi cất tiếng nói là cả thiên hạ phải lắng tai nghe. Đương
nhiên thời ấy chúng tôi có rống lên như bây giờ đâu. Ngày nay
chúng tôi phải tìm cách dùng tiếng rống của mình để thể hiện mọi
ước mong, tình cảm, ý nghĩ và thậm chí cả những nỗi đau khổ nữa.
Nhưng thật khó có thể diễn đạt được nhiều điều bằng hai âm tiết "í a, í - a" Than ôi, cả một tiếng nói giầu có, phong phú đến thế, nay
chỉ còn sót lại hai âm tiết thô thiển này.
Kể đến đây chắc các bạn nóng lòng muốn biết điều gì đã xảy ra
làm cho tiếng nói của họ nhà lừa chúng tôi bị chết. Đó là một sự kiện
khủng khiếp mà tôi sẽ kể dưới đây cho các bạn nghe. Sự kiện ấy đã
cưới đi trí nhớ của chúng tôi, và thế là chúng tôi bỗng quên hẳn
tiếng nói của mình.
Hôm ấy một cụ tổ lừa cao niên đang gặm cỏ ngoài đồng. Cụ lừa
thong thả bứt từng sợi cỏ và thi thoảng ngân lên những khúc ca nhỏ
dịu dàng. Bỗng nhiên cụ ngửi thấy một mùi nồng nặc hết sức khó
chịu - mùi của chó sói.
Các mùi hôi thối ấy mỗi lúc một tăng lên, nghĩa là cái chết mỗi
lúc một đến gần. Thế nhưng cụ lừa vẫn một mực tự nhủ:
- Không phải chó sói! Làm sao có thể lại là sói được !
Nỗi khiếp sợ làm trái tim cụ đau thắt lại, nhưng cụ vẫn làm ra vẻ
bình tĩnh và lẩm bẩm không dứt:
- Cầu trời, không phải chó sói. Ở đây tìm đâu ra chó sói mới
được chứ!
Bỗng cụ nghe thấy tiếng gừ gừ. Đúng là tiếng gừ chó sói, cái
thứ tiếng thật nhức nhối, nâng nể vô cùng. Cụ lừa vểnh tai lên nghe
ngóng căng thẳng, nhưng vẫn giữ giọng cũ:
- Không phải sói đâu! Tiếng gừ này không phải của chó sói.
Trong khi đó tiếng gầm gữ đã ở gần bên. Cụ lừa hoảng hồn liền
quay lại và nhìn thấy trên đỉnh gò đất bên cạnh bóng một con sói mờ
mờ trong màn sương dày đặc.
- Không phải sói đâu. Có là lẽ một bụi cây thôi mà - cụ tự trấn
an, - ta cứ việc gặm cỏ, không việc gì phải sợ.
Một thoáng sau con sói vụt chạy ra từ bụi cây.
Cụ lừa sợ quá, người run lên cầm cập, nhưng vẫn không hề
muốn tin rằng đó là sói thật.
- Làm gì có sói ở đây? Chẳng qua mắt mình kém quá rồi, nhìn
bụi rậm hoá thành chó sói.
Con sói mỗi lúc tiến lại gần hơn. Cụ lừa sợ thót tim.
- Ôi, trời đất ơi! Chẳng lẽ lại là sói thật? Không không thể thế
được, - cụ rên rỉ, đau đớn. - Có lẽ là lạc đà đấy thôi. Hay là một con
gì khác. Mà làm sao lúc nào mình cũng chỉ nghĩ đến chó sói nhỉ?
Chó sói chỉ còn cách cụ lừa ba bước, nó nhe răng và chực xông
vào con mồi. "Không phải chó sói. Mình tin rằng không phải chó sói,
nhưng tốt hơn hết là nên biến khỏi đây", cụ lừa nghĩ thế và phóng
chạy. Chó sói lao theo, rớt rãi đầy miệng.
Cụ lừa tăng tốc phóng nhanh như gió. Chó sói bám sát, không
rời một bước.
" Không, không phải sói đâu. Chỉ là mèo rừng thôi". - Cụ lừa
nghĩ bụng và ngoái cổ lại. Hai con mắt sói sáng rực như hai cục than
hồng, hơi thở của sói phả ra nóng rát ngay sát cạnh đuôi. Đã đến
thế mà cụ lừa vẫn không muốn tin rằng đó là chó sói. Cuối cùng cụ
phải dừng lại vì kiệt sức. Cụ nheo mắt và chờ đợi cái gì sẽ tới, bụng
bảo dạ:
- Không phải sói đâu. Cầu trời mong cho không phải sói.
Con sói lao vào người cụ, quật cụ xuống đất.
- Tôi biết, anh không phải là sói - cụ lừa kêu lên. - Anh đừng cù
tôi thế. Tôi không thích cù đâu.
Con sói cắn phập hai hàm răng vào mông cụ lừa, giật ra một
tảng thịt lớn.
Lúc này cụ mới hiểu ra rằng tình thế đã nguy nan lắm rồi. Vì
kinh sợ quá cụ quên hẳn tiếng nói của mình. Cụ không còn nhớ nổi
một tiếng lừa nào nữa.
Còn chó sói thì liên tiếp nhảy xổ vào cắn xé cụ. Máu cụ lừa tuôn
ra như suối. Lúc bấy giờ cụ mới kêu lên:
- A-a-a! Hoá ra là sói. Thế mà... thế mà... tôi không tin.
Chó sói rứt từng miếng thịt cụ. Cụ lừa rên rỉ oán thán:
- Thế ra... thế ra...
Tiếng kêu đau đớn đó của cụ lừa vang vọng khắp chốn rừng
xanh, tất cả họ nhà lừa chúng tôi đều nghe thấy rõ. Từ đó cả họ nhà
lừa chúng tôi quên mất tiếng nói của mình, chỉ còn biết dùng tiếng
rống để diễn tả mọi ý nghĩ tình cảm mà thôi. Giá như cụ lừa chúng
tôi không tự dối lòng mình khi tai hoạ ập đến, thì bây giờ chúng tôi
vẫn còn tiếng nói riêng của mình.
Ôi, thương thay cho cái thân lừa chúng tôi. Ôi, thương thay cho
bộ tộc nhà lừa... í - a, í - a, í - a!
Đây là cái gì?
Các bạn đã bao giờ chứng kiến cảnh người ta bị phát bệnh điên
như thế nào chưa? Tôi đã thấy rồi.
Ồ, đó là một người có thần kinh vững chắc vô cùng, có học
thức và có văn hoá. Con người tội nghiệp đó bị phát điên ngay trước
mắt tôi.
Câu chuyện xảy ra cách đây hai năm. Vợ chồng tôi được một
người bạn tôi kéo đến dự bữa ăn tối với những người muốn được
làm quen với vợ chồng tôi. Trước sự nài nỉ khẩn khoản của anh, tôi
đành nhận lời. Thế là chúng tôi có mặt trong đám khách không quen
biết.
Tôi vốn không thích những cuộc làm quen như vậy, bởi lần đầu
tiên đến những nơi không quen, tôi thường cảm thấy lúng túng, khó
xử và cái bộ mặt lạnh lùng của tôi thường ảnh hưởng đến tất cả
những người xung quanh. Thậm chí căn phòng nơi tôi đến, lập tức
biến thành một nơi như có đặt thiết bị làm lạnh.
Vợ chồng chủ nhà mời tôi hoá ra là những người dễ mến hiếm
có. Họ cố gắng tìm mọi cách làm cho chúng tôi vui.
Đến sau chúng tôi còn có một số khách nữa; hai phụ nữ và
những người đàn ông. Bà chủ nhà mến khách mời chúng tôi uống
khai vị trước bữa tối.
Những người khách mới đến làm không khí trong phòng khách
bớt lạnh nhạt đi một chút. Nhưng chỉ một lúc sau chính họ lại luồng
hơi lạnh phả ...
 





