Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
văn

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 09h:31' 19-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 09h:31' 19-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
Những phát hiện về vạn vật và con người, Giới thiệu
Cuốn sách được lược dịch từ tác phẩm The discovers - A history of Man s
Search to know his world and himself của tác giả Daniel J. Boorstin.
Người hùng của cuốn sách này là Con Người - nhà khám phá. Thế giới theo
góc nhìn của văn hóa phương Tây hôm nay - những quan niệm về thời gian,
đất và biển, các vật thể của bầu trời và thân thể của chúng ta, các loài thực
vật và động vật, lịch sử và các xã hội loài người của quá khứ và hiện tại - thế
giới ấy đã được mở ra cho chúng ta bởi vô số những nhà khám phá như
Colombô. Trong suốt những quá khứ xa xăm, họ vẫn là những con người vô
danh. Khi chúng ta càng đến gần hiện tại, họ xuất hiện trong ánh sáng của
lịch sử, với muôn vàn cá tính cũng đa dạng như bản tính con người. Các
cuộc khám phá đã trở thành những thiên tiểu sử, những câu chuyện bất ngờ
giống như sự bất ngờ của những thế giới mới mà các nhà khám phá đã mở ra
cho chúng ta.
Những trở ngại cho việc khám phá - những ảo tưởng của nhận thức - cũng là
thành phần câu chuyện của chúng ta. Chỉ khi chúng ta biết đối chiếu với cái
nền nhận thức thông thường và huyền thoại đã bị lãng quên của thời đại họ,
chúng ta mới bắt đầu cảm nhận được sự dũng cảm, quyết liệt, những gắng
sức phi thường và đầy trí tưởng tượng của những nhà khám phá vĩ đại. Họ đã
phải chiến đấu chống lại những "sự kiện" và những giáo điều của con người
trí thức đương thời. Tôi đã cố gắng tìm lại những ảo tưởng ấy - về trái đất,
các lục địa và đại dương trước thời Colombô và Balboa, Magellan và thuyền
trưởng Cook; về vũ trụ trước thời Copernic, Galileo và Kepler; về cơ thể con
người trước thời Paracelsus, Vesalius và Harvey; về thực vật và động vật
trước thời Ray và Linnaeus, Darwin và Pasteur; về quá khứ trước thời
Petrarch và Winckelmann, Thomsen và Schliemann; về tài nguyên trước thời
Adam Smith và Keynes; về thế giới vật lý trước thời Newton, Dalton và
Faraday, Clerk Maxwell và Einstein.
Tôi đã đặt một ít câu hỏi kỳ lạ. Tại sao người Trung Quốc đã không "khám
phá" ra châu Âu hay châu Mỹ? Tại sao người Ả rập đã không vượt biển vòng
quanh châu Phi và vòng quanh thế giới? Tại sao con người phải mất rất lâu
mới biết rằng trái đất xoay quanh mặt trời? Tại sao người ta đã bắt đầu tin
rằng động và thực vật được phân chia thành những "loài" (species)? Tại sao
mãi về sau này người ta mới khám phá ra những sự kiện của thời tiền sử và
tiến bộ của nền văn minh?
Tôi chỉ đề cập tới một số ít các phát minh trọng yếu - đồng hồ, la bàn, kính
viễn vọng và kính hiển vi, máy in và chữ in - là những dụng cụ cốt yếu cho
việc khám phá. Tôi đã không trình bày việc hình thành các cơ chế chính trị,
các cuộc chiến tranh, sự hưng thịnh và suy tàn của các đế quốc. Tôi đã
không bàn đến văn hóa, câu chuyện về con người sáng tạo, về kiến trúc, hội
họa, điêu khắc, âm nhạc tiêu điểm và văn học, tuy rằng những điều này đã
gia tăng niềm vui sướng cho kinh nghiệm của loài người. Tiêu điểm của tôi
luôn luôn là nhu cầu hiểu biết của loài người - biết là tất cả chủ đề của cuốn
sách này.
Về tổng thể, dàn bài của sách này đi theo trình tự thời gian. Về chi tiết, nó là
một lược đồ chọn lọc. Mỗi phần trong mười lăm phần của sách sẽ trùng lặp
về thời gian với phần đi trước vì câu chuyện đi từ thời cổ đại tới hiện đại.
Tôi bắt đầu với đề tài Thời Gian, là chiều kích bí ẩn và khó nắm bắt nhất
trong các chiều kích sơ đẳng của kinh nghiệm. Rồi tôi chuyển sang những
viễn cảnh mở rộng của con người về Trái Đất và Biển Cả. Tiếp theo là Thiên
Nhiên - những vật thể trong vũ trụ và trên trái đất, thực vật và động vật, cơ
thể con người và các tiến trình của nó. Cuối cùng là Xã Hội, với khám phá là
quá khứ của loài người không giống như chúng ta vẫn tưởng, tiếp đến là việc
con người khám phá chính mình và những Vùng Tối trong nguyên tử.
Đây là một câu chuyện không có đoạn kết. Tất cả thế giới này vẫn còn là
một Tân Thế Giới. Những lời hứa hẹn nhất được viết trên bản đồ tri thức của
nhân loại là terra incognita - miền đất lạ.
Bản dịch sau đây của Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy, Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2001.
Những phát hiện về vạn vật và con người, P 1 - Chương 1
"Thượng Đế đã tạo dựng các hành tinh và các ngôi sao không phải để chúng
thống trị con người, nhưng để chúng cũng như các tạo vật khác, vâng phục
và phục vụ con người" - Paracelsus (1541)
Từ cực tây bắc Greenland tới cực nam Patagonia, người ta đâu đâu cũng đón
chào trăng mới - một thời gian để ca hát và cầu nguyện, ăn uống và vui chơi.
Người Eskimô mở một lễ hội, trong đó các pháp sư của họ cử hành, họ tắt
hết đèn rồi vui vẻ với những người phụ nữ. Các thổ dân Nam Phi hát một bài
thánh ca: "Trăng Mới!.. Kính chào, Kính chào Trăng Mới!". Dưới ánh trăng,
mọi người đều thích khiêu vũ. Và mặt trăng còn có những sự quyến rũ khác.
Theo lời kể của sử gia Tacitus cách đây gần 2000 năm, những cộng đồng
người Đức cổ đại thường tổ chức lễ hội vào những ngày trăng non hay trăng
tròn, là "những mùa được coi là tốt đẹp nhất để bắt đầu công việc làm ăn".
Khắp nơi ta đều tìm thấy những ý nghĩa thần thoại, huyền bí và lãng mạn về
mặt trăng - mặt trăng được gọi là chị Hằng, chị Nguyệt; mặt trăng gắn liền
với truyện Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; mặt trăng được coi là khung cảnh lý
tưởng để đôi trai gái hẹn hò tình tự. Nhưng ý nghĩa sâu xa và quan trọng nhất
của mặt trăng có liên quan tới việc đo lường thời gian; mặt trăng được gọi là
nguyệt, là một tuần trăng, nghĩa là một tháng. Người cổ xưa đã biết dùng mặt
trăng làm một đơn vị đo lường thời gian.
Tuy việc sử dụng mặt trăng làm đơn vị thời gian này khá đơn giản, nhưng nó
từng là một cạm bẫy đối với đầu óc ngây thơ của con người. Tính tháng theo
mặt trăng rất tiện lợi, vì khắp nơi trên mặt đất đều có thể nhìn thấy các chu
kỳ trăng, thế nhưng nó dẫn người ta vào ngõ cụt. Điều mà các thợ săn và
nông dân cần có một lịch các mùa - một cách để dự báo sẽ có mưa hay tuyết,
nóng hay lạnh. Còn bao lâu nữa mới tới thời kỳ gieo trồng? Khi nào sẽ có
đợt sương giá đầu tiên? Khi nào sẽ có mưa lũ?
Mặt trăng không giúp được bao nhiêu cho những nhu cầu ấy. Thực ra, những
chu kỳ của mặt trăng tương ứng một cách kỳ lạ với chu kỳ kinh nguyệt của
phụ nữ, vì một tuần trăng, nghĩa là một thời gian cần thiết để mặt trăng trở về
cùng một vị trí trong bầu trời, là hơn kém 28 ngày và một người phụ nữ có
thai có thể trông chờ sẽ sinh con sau 10 tuần trăng này. Nhưng một năm tính
theo mặt trời - cách đo lường chính xác các ngày giữa các mùa trở về - là
365 1/4 ngày. Các chu kỳ của mặt trăng là do chuyển động của mặt trăng
xoay quanh trái đất cùng lúc với trái đất xoay quanh mặt trời. Quỹ đạo của
mặt trăng hình êlíp và rời xa quỹ đạo của trái đất với mặt trời một góc
khoảng 5 độ. Đây là lý do tại sao nhật thực không xảy ra hằng tháng.
Các chu kỳ của mặt trăng không tương ứng với các chu kỳ của mặt trời, đây
là một sự kiện gây thắc mắc và kích thích suy nghĩ của con người. Giá mà
người ta có thể tính toán được chu kỳ các mùa và các năm bằng cách chỉ cần
nhân lên các chu kỳ của mặt trăng thì việc tính toán đỡ rắc rối cho người ta
biết bao. Nhưng nếu như vậy, có lẽ chúng ta cũng mất đi động cơ để nghiên
cứu về bầu trời và trở thành những nhà toán học.
Như chúng ta biết ngày nay, các mùa trong năm bị chi phối bởi các chuyển
động của trái đất xoay quanh mặt trời. Mỗi chu kỳ các mùa đánh dấu việc
trái đất trở về vị trí cũ của nó trên quỹ đạo, một chuyển động từ một điểm
phân (hay điểm chí) sang điểm kế tiếp. Loài người cần có một lịch để sinh
hoạt trong mùa. Phải bắt đầu thế nào?
Người Babylon cổ đại bắt đầu với lịch mặt trăng và tiếp tục duy trì nó. Sự cố
chấp của họ với các chu kỳ mặt trăng trong việc làm lịch đã tạo ra những hậu
quả nghiêm trọng.
Khi tìm cách đo chu kỳ các mùa theo bội số của các chu kỳ mặt trăng, họ đã
khám phá ra, khoảng năm 432 trước C.N., chu kỳ 19 năm gọi là chu kỳ
Mêtônic (theo tên của nhà thiên văn Mêtôn). Họ thấy rằng nếu dùng một chu
kỳ 19 năm, gồm 7 năm có 13 tháng và 12 năm chỉ có 12 tháng, họ có thể tiếp
tục sử dụng các chu kỳ rõ ràng thuận tiện của mặt trăng làm cơ sở để tính
lịch của họ. Việc họ chèn vào một tháng phụ trội tránh được cái bất tiện của
một năm "trôi nổi" trong đó các mùa dần dần trôi nổi theo các tháng mặt
trăng, khiến không thể biết được tháng nào sẽ bắt đầu một mùa mới. Lịch
Mêtônic với chùm 19 năm quá phức tạp không tiện cho việc sử dụng hằng
ngày.
Người Ai Cập hầu như tránh được những quyến rũ của mặt trăng. Như
chúng ta biết, họ là những người đầu tiên khám phá ra thời gian của năm mặt
trời và xác định nó một cách cụ thể và thực dụng. Giống như với các thành
tựu quan trọng khác của nhân loại, chúng ta biết được cái gì rồi, nhưng vẫn
còn thắc mắc về cái tại sao, cái thế nào và cả cái khi nào. Thắc mắc thứ nhất
là tại sao lại do người Ai cập tìm ra. Người Ai Cập không có sẵn những dụng
cụ thiên văn được biết đến trong thế giới cổ đại. Họ không có những thiên tài
toán học xuất sắc. Khoa thiên văn của họ còn rất thô sơ so với khoa thiên văn
của người Hy Lạp và các dân tộc khác ở vùng Địa Trung Hải và chịu ảnh
hưởng mạnh bởi các nghi tiết tôn giáo. Nhưng có lẽ vào khoảng 2500 trước
C.N., họ đã mường tượng ra các dự đoán thời điểm mặt trời mọc hay mặt
trời lặn sẽ chiếu dọi lên đỉnh của một tháp kỷ niệm, nhờ đó họ tăng thêm
cảnh rực rỡ cho các lễ nghi hay các cuộc mừng kỷ niệm của họ.
Phương thức làm lịch của Babylon sử dụng chu kỳ mặt trăng và điều chỉnh
các mùa và năm mặt trời bằng cách chèn thêm một tháng, nên tỏ ra bất tiện.
Những sự tùy tiện của các địa phương thắng thế. Tại Hy Lạp, các miền đất
nước bị phân cách bởi các núi đồi và các vùng biển và các đồng bằng phì
nhiêu, mỗi tiểu quốc có lịch riêng cho mình, tùy tiện "chèn vào" tháng phụ
trội để đánh dấu một lễ hội địa phương hay đáp ứng các nhu cầu chính trị.
Kết quả là làm hỏng chính mục đích của lịch - một khung thời gian để giúp
quy tụ người ta lại với nhau, giúp thực hiện dễ dàng các kế hoạch chung, như
các thỏa thuận về thời kỳ bắt đầu gieo trồng và phân phối hàng hóa.
Người Ai Cập không có gen toán học của người Hy Lạp, nhưng họ đã giải
quyết được vấn đề thực tiễn. Họ đã phát minh ra một lịch phục vụ cho các
nhu cầu hằng ngày trên khắp đất nước họ. Ngay từ năm 3200 trước C. N.,
toàn vùng thung lũng sông Nile đã thống nhất với châu thổ sông Nile thành
một đế quốc duy nhất trong suốt 3000 năm, mãi cho tới Thời đại Clêôpatra.
Sự thống nhất chính trị còn được sự hỗ trợ của thiên nhiên. Giống như các
thiên thể trên bầu trời, sông Nile cũng mang một dòng chảy tự nhiên êm đềm
và thơ mộng. Là con sông dài nhất ở châu Phi, sông Nile trải dài 4 ngàn dặm
từ đầu nguồn xa tắp, thu gom lượng nước mưa và tuyết dồi dào của các cao
nguyên Êtiôpia và toàn thể miền đông bắc của lục địa trong một dòng sông
lớn duy nhất và đổ ra Địa Trung Hải. Người cổ đại dựa theo gợi ý của
Herodotus đã gọi Ai Cập là "quà tặng của sông Nile". Việc đi tìm các nguồn
của sông Nile, giống như việc đi tìm Chén Thánh, chất chứa vô số những ý
nghĩa huyền bí và đã kích thích những nhà thám hiểm gan dạ vào thế kỷ 19.
Sông Nile đã làm hoa màu tươi tốt, tạo thuận lợi cho nền thương mại và
ngành kiến trúc của Ai Cập. Là đường giao thông thương mại lớn, sông Nile
còn là đường vận tải các vật liệu để xây dựng các đền thờ và kim tự tháp đồ
sộ. Một cây tháp bằng đá granít nặng 3 nghìn tấn có thể được khai thác ở
Aswan rồi được vận chuyển 2 trăm dặm xuôi dòng sông tới thành Thebes.
Sông Nile nuôi dưỡng các thành phố cắm dọc hai bên bờ sông. Chẳng lạ gì
người Ai Cập gọi sông Nile là "biển" và trong Kinh Thánh nó được gọi là
"Sông Cả".
Nhịp chảy của sông Nile cũng chính là nhịp chảy của đời sống Ai Cập. Mực
nước sông dâng lên hằng năm định ra lịch gieo trồng và gặt hái với ba mùa:
tưới tiêu, tăng trưởng và thu hoạch. Nước lũ của sông Nile từ cuối tháng 6
đến cuối tháng 10 bồi nhiều đất phù sa phì nhiêu, giúp cho hoa màu được
gieo trồng và tăng trưởng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 2, được thu hoạch
từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 6. Vừa đều đặn vừa cần thiết cho đời sống
giống như mặt trời, mực nước sông Nil dâng lên đánh dấu cho năm của sông
Nil. Hiển nhiên, lịch Ai Cập sơ khởi là một "đồng hồ sông Nil" - một cây
thước đơn sơ đánh dấu mực nước sông dâng lên hằng năm. Chỉ cần tính toán
niên lịch sông Nil trong một ít năm cũng cho thấy rõ nó không tương ứng
với các chu kỳ mặt trăng. Nhưng ngay từ rất sớm, người Ai Cập đã khám
phá ra rằng có thể làm ra một lịch về mùa rất hữu ích với mười hai tháng,
mỗi tháng gồm ba mươi ngày, cộng thêm 5 ngày vào cuối năm, thành một
năm 365 ngày. Đó là lịch "dân sự", hay "lịch sông Nile, mà người Ai Cập đã
bắt đầu sử dụng ngay từ năm 4241 trước C.N".
Không dùng chu kỳ tiện dụng của mặt trăng, người Ai Cập đã tìm ra một ký
hiệu khác để đánh dấu năm của họ: sao Thiên Lang, ngôi sao sáng nhất trên
bầu trời. Mỗi năm một lần, sao Thiên Lang mọc vào buổi sáng cùng đường
thẳng với mặt trời.
Sao Thiên Lang mọc hằng năm tương ứng với giữa mùa nước lũ của sông
Nile, đã trở thành đầu năm theo lịch Ai Cập. Sự kiện này được đánh dấu
bằng một lễ hội đầu năm gồm 5 ngày (những ngày không nằm trong các
tháng), được cử hành để tôn kính lần lượt sinh nhật của Osiris, của thần
Horus (con thần Osiris), thần Set (thù địch của Osiris), của Isis (chị và vợ
của Osiris) và của Nepththys (vợ của Set).
Hiển nhiên, vì năm mặt trời không đúng 365 ngày, nên trải qua nhiều thế kỷ,
năm Ai Cập 365 ngày đã trở thành một "năm trôi nổi" với mỗi tháng được
xác định dần dần xảy ra vào một mùa khác nhau. Sự sai biệt này quá nhỏ
khiến phải thật nhiều năm, dài hơn một đời người rất nhiều, thì sự sai biệt
này mới gây xáo trộn cho đời sống hằng ngày. Mỗi tháng di chuyển qua mọi
mùa trong suốt một nghìn bốn trăm sáu mươi năm. Hơn nữa, lịch Ai Cập này
ích lợi hơn bất kỳ lịch nào khác vào thời đó nên đã được Julius Cesar dùng
để làm lịch Julian của ông. Nó tồn tại suốt thời Trung Cổ và vẫn còn được
Copernic sử dụng trong các bảng tính thiên thể của ông vào thế kỷ 16.
Mặc dầu với lịch hằng ngày của mình, người Ai Cập đã thành công trong
việc tuyên bố họ không lệ thuộc mặt trăng, nhưng mặt trăng vẫn còn tạo sự
mê hoặc cho con người cổ đại. Nhiều dân tộc, kể cả người Ai Cập, vẫn dùng
chu kỳ mặt trăng để hướng dẫn các lễ hội tôn giáo và các ngày kỷ niệm
huyền bí của mình. Ngay cả ngày nay, những người chịu ảnh hưởng tín
ngưỡng mạnh vẫn bị chi phối bởi các chu kỳ của mặt trăng. Những bất tiện
của việc sống theo lịch mặt trăng trở thành một bằng chứng cho niềm tin tôn
giáo hằng ngày.
Người Do Thái, chẳng hạn, vẫn theo âm lịch của họ và mỗi tháng âm lịch Do
Thái vẫn bắt đầu khi trăng mới xuất hiện. Để năm âm lịch của họ phù hợp
với năm theo mùa, người Do Thái đã thêm vào một tháng cho mỗi năm
nhuận và lịch Do Thái đã trở thành một môn học kỳ cục của các giáo sĩ Do
Thái. Năm âm lịch Do Thái gồm 12 tháng, mỗi tháng 29 hay 30 ngày, tổng
cộng 354 ngày. Để làm cho đủ năm dương lịch, những năm nhuận thêm vào
một tháng, mỗi tháng 29 hay 30 ngày, tổng cộng 354 ngày. Để làm cho đủ
năm dương lịch, những năm nhuận thêm vào một tháng cho các năm thứ ba,
sáu, tám, mười một, mười năm. Thỉnh thoảng cần có các sự điều chỉnh khác
cho các dịp lễ của họ xảy ra đúng mùa - ví dụ, để đảm bảo cho dịp lễ Vượt
Qua là lễ mùa xuân diễn ra sau xuân phân. Trong Kinh Thánh, hầu hết các
tháng đều lấy tên Babylon thay vì tên Do Thái.
Kitô giáo theo Do Thái giáo trong hầu hết các lễ của mình, đã duy trì sự gắn
bó của mình với năm âm lịch. Các "ngày lễ di động" của Giáo Hội không cố
định theo năm dương lịch vì Giáo Hội muốn giữ cho các ngày lễ ấy tương
ứng với các chu kỳ của mặt trăng. Những ngày lễ này vẫn còn gợi lại cho
chúng ta niềm hứng cảm ban đầu của luồng ánh sáng rực rỡ trên bầu trời ban
đêm. Hiển nhiên ngày lễ di động quan trọng nhất của Kitô giáo là lễ Phục
Sinh, cử hành cuộc sống lại của Chúa Giêsu. Theo Sách Kinh Chung của
Giáo Hội Anh giáo, ngày lễ Phục Sinh luôn luôn rơi vào chủ nhật đầu tiên
sau trăng tròn, tức là ngày chủ nhật đầu tiên sau ngày 21 tháng ba hoặc ngày
kế tiếp, và nếu trăng tròn xảy ra vào một ngày chủ nhật, thì lễ Phục Sinh sẽ
rơi vào ngày chủ nhập kế tiếp. Có cả chục ngày lễ khác của Giáo Hội được
ấn định dựa vào ngày lễ Phục Sinh và ngày âm lịch của lễ này, kết quả là lễ
Phục Sinh chi phối khoảng 17 tuần lễ trong lịch Giáo Hội. Việc ấn định ngày
lễ Phục Sinh - hay nói cách khác, việc ấn định lịch - đã là một vấn đề và một
biểu tượng lớn. Vì sách Kinh Thánh Tân Ước kể lại rằng Chúa Giêsu bị
đóng đinh vào ngày lễ Vượt Qua của Do Thái giáo, cho nên việc kỷ niệm
Chúa Sống Lại vào ngày lễ Phục Sinh rõ ràng gắn liền với lịch Do Thái. Kết
quả tất yếu là việc ấn định ngày lễ Phục Sinh sẽ tùy thuộc vào lối tính toán
phức tạp của Thượng Hội Đồng Do Thái giáo trong việc ấn định ngày lễ
Vượt Qua.
Nhiều Kitô hữu thời kỳ đầu giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen nên đã xác
định rằng Chúa Giêsu chết vào ngày thứ sáu và sống lại vào ngày Chủ nhật
Phục Sinh tiếp theo. Nhưng nếu ngày lễ này được mừng theo âm lịch Do
Thái, thì không có gì bảo đảm là lễ Phục Sinh phải rơi vào ngày Chủ nhật.
Cuộc tranh cãi gay gắt về lịch đã gây ra cuộc ly giáo đầu tiên giữa Giáo Hội
Chính Thống Phương Đông với Giáo Hội Công Giáo Rôma. Các Kitô hữu
phương đông theo âm lịch nên tiếp tục duy trì lễ Phục Sinh vào ngày 14 của
tháng âm lịch, bất kể ngày này có thể là chủ nhật hay không. Tại Công Đồng
Chung đầu tiên của Kitô giáo họp ở Nicea bên Tiểu á vào năm 325, một
trong những vấn đề phải thống nhất trong toàn thế giới Kitô giáo là việc ấn
định ngày lễ Phục Sinh. Người ta đã ấn định một ngày chung sao cho cả hai
giáo hội đều duy trì âm lịch và đồng thời bảo đảm cho ngày Phục Sinh luôn
luôn rơi vào Chủ nhật.
Nhưng điều này không giải quyết được vấn đề. Để có thể ấn định chung,
phải có người lo việc dự báo những chu kỳ mặt trăng và đưa nó vào trong
dương lịch. Công Đồng Nicea đã trao nhiệm vụ này cho giám mục thành
Alexandria. Tại trung tâm thiên văn cổ kính ấy, vị giám mục này phải dự báo
những chu kỳ của mặt trăng cho tất cả các năm trong tương lai. Sự bất đồng
về cách dự báo những chu kỳ đặc biệt này đã dẫn đến một sự phân rẽ trong
Giáo Hội, với kết quả là các miền khác nhau trên thế giới tiếp tục mừng lễ
Phục Sinh vào các chủ nhật khác nhau.
Việc sửa đổi lịch do Giáo Hoàng Gregorio XIII thực hiện là cần thiết, vì lịch
mà Julius Cesar đã mượn của Ai Cập và toàn thể phương Tây đã sử dụng
cho tới thời đó thì không đủ chính xác để đo chu kỳ dương lịch. Năm dương
lịch thực tế - thời gian cần thiết để trái đất quay đủ một vòng quanh quỹ đạo
mặt trời - là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 46 giây. Nghĩa là ít hơn 11 phút 14
giây so với con số 365 1/4 ngày của năm theo lịch Ai Cập. Kết quả là các
ngày tháng trong lịch dần dần mất đi sự tương quan với các sự kiện của mặt
trời và các mùa. Ngày trọng yếu để tính ngày lễ Phục Sinh là ngày xuân
phân, đã được Công Đồng Nicea ấn định là ngày 21 tháng 3. Nhưng những
sự thiếu chính xác tích lũy dần trong lịch Julian đã khiến cho ngày xuân phân
của năm 1582 thực sự rơi vào ngày 11 tháng 3.
Giáo Hoàng Gregorio XIII là một nhà cải cách đầy nghị lực trong một số
lĩnh vực. Ngài đã quyết tâm tu sửa niên lịch một cách dứt khoát. Năm 1582,
ngài đã truyền rằng ngày kế tiếp sau 4 tháng 10 ngày là ngày 15 tháng 10.
Như thế cũng có nghĩa là xuân phân của năm tới sẽ rơi vào ngày 21 tháng 3,
đúng theo đòi hỏi của dương lịch các mùa. Thế là niên lịch theo mùa đã được
hồi phục lại theo niên lịch đã có năm 325. Những năm nhuận của lịch Julian
cũ đã được điều chỉnh lại. Để tránh tích lũy sự khác biệt do 11 phút mỗi
năm, lịch Gregorio đã loại bỏ những ngày nhuận trong các năm có hai số 0
tận cùng, trừ khi chúng chia chẵn cho 400. Lịch này đã trở thành lịch mới
được phương Tây sử dụng cho tới nay.
Trở lại năm 1582, khi Giáo Hoàng Gregorio cắt bớt 10 ngày trong lịch năm
ấy, đã có những sự phàn nàn và xáo trộn. Những người làm thuê đòi hưởng
đủ số lương cho tháng đã bị cắt ngắn đó; các chủ nhân từ chối. Người ta
phản đối vì tuổi thọ mình bị rút ngắn do sắc lệnh của Giáo Hoàng. Nhưng
khi nước Anh và các thuộc địa châu Mỹ họp lại để thực hiện việc đổi lịch,
Benjamin Franklin, 46 tuổi khi ông bị rút mất 10 ngày đời mình, đã hóm
hỉnh viết cho các độc giả quyển Poor Riachard s Almanach rằng họ phải vui
mừng mới đúng: "Độc giả thân mến, bạn đừng ngạc nhiên, cũng đừng tức
giận vì việc bị rút bớt 10 ngày, cũng đừng nuối tiếc đã bị mất nhiều thời giờ
như thế, nhưng hãy tự an ủi vì các chi tiêu của bạn được giảm nhẹ và tâm trí
bạn được thảnh thơi hơn".
Thế giới không bao giờ chấp nhận hoàn toàn lịch cải cách Gregorio. Giáo
Hội Chính Thống Phương Đông vẫn theo lịch Julian để tính ngày lễ Phục
Sinh của mình. Tuy nhiên, đối với các sinh hoạt thường ngày, toàn thế giới
Kitô giáo đều chấp nhận dương lịch vì nó tiện lợi cho việc nhà nông và công
việc buôn bán. Còn Hồi Giáo vì muốn trung thành với lời tiên tri Môhamét
của mình và với những lời dạy của Kinh Koran, nên vẫn duy trì âm lịch.
Tại Trung Hoa, cuộc cách mạng 1911 đã thực hiện một cuộc cải cách và đưa
vào sử dụng lịch phương Tây bên cạnh lịch truyền thống của Trung Hoa.
Năm 1929 Liên Xô muốn xóa bỏ lịch Kitô giáo, nên đã thay thế lịch
Gregorio bằng lịch Cách mạng. Tuần lễ có 5 ngày, 4 ngày làm việc, ngày thứ
năm nghỉ và mỗi tháng có sáu tuần. Những ngày phụ trội để làm cho năm đủ
365 hay 366 ngày sẽ là những ngày nghỉ. Tên các tháng vẫn giữ theo lịch
Gregorio, nhưng tên các ngày trong tuần được gọi đơn giản bằng con số.
Đến năm 1940, Liên Xô đã quay trở lại với lịch Gregorio quen thuộc.
Những phát hiện về vạn vật và con người, P 1 - Chương 2
Bao lâu con người còn đánh dấu đời sống mình bằng những chu kỳ của thiên
nhiên - các mùa đắp đổi, trăng non hay trăng tròn - thì con người vẫn còn bị
thiên nhiên giam hãm. Nếu con người muốn tự lập và đổi mới thế giới bằng
những sáng tạo của mình, họ cần phải có cách đo lường thời gian riêng của
mình. Và những chu kỳ nhân tạo này sẽ trở nên đa dạng một cách kỳ diệu.
Có lẽ tuần lễ là một trong những nhóm đơn vị thời gian nhân tạo có sớm nhất
trong lịch sử. Tuần lễ không phải là một sáng tạo của phương Tây, cũng
không phải ở đâu tuần lễ cũng gồm 7 ngày. Trên khắp thế giới, người ta thấy
có ít nhất là 15 kiểu tuần lễ khác nhau, với những tập hợp từ 5 đến 10 ngày.
Kiểu tuần lễ được sử dụng phổ biến nhất không phải một tập hợp số ngày
đặc biệt nào, mà là do nhu cầu và ước muốn có một tập hợp nào đó mà thôi.
Con người có một ước muốn mãnh liệt và thúc bách xử lý thời gian, sử dụng
nó cho lợi ích của mình nhiều hơn những gì thiên nhiên cống hiến.
Tuần lễ bảy ngày phổ biến hiện nay bắt nguồn từ nhu cầu và sự thỏa thuận
chung của người ta, chứ không phải do pháp chế của một nhà nước nào. Nó
đã xảy ra thế nào? Tại sao? Khi nào?
Tại sao tuần lễ lại là 7 ngày?
Người Hy Lạp cổ hình như không có tuần lễ. Người Rôma sống theo tuần lễ
8 ngày. Các nông dân làm việc ở đồng ruộng 7 ngày và ra thành phố ngày
thứ 8 - ngày chợ phiên. Đây là một ngày nghỉ ngơi và giải trí. Không rõ tại
sao người Rôma ấn định tuần lễ 8 ngày và tại sao cuối cùng họ đã đổi thành
7 ngày. Con số 7 có một sức lôi cuốn kỳ bí hầu như ở khắp nơi. Người Nhật
cho rằng có 7 vị thần hạnh phúc, thành Rôma được xây trên 7 ngọn đồi,
người cổ đại kể ra 7 kỳ quan của thế giới và các Kitô hữu thời Trung Cổ liệt
kê ra 7 mối tội đầu. Hình như không có văn bản chính thức nào của chính
quyền Rôma để thay đổi tuần lễ từ 8 sang 7 ngày. Người Rôma đã sống theo
tuần lễ 7 ngày ngay từ đầu thế kỷ 3 sau C.N.
Chắc hẳn phải có những ý tưởng mới phổ biến nào đó về tuần lễ bảy ngày.
Một ý tưởng nổi bật là về ngày Sabát, hình như từ Do Thái du nhập vào
Rôma. Giới răn thứ hai truyền dạy, "Ngươi hãy nhớ ngày Sabát và coi đó là
ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của
ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi; ngày đó ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con
trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì
trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong
đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc
cho ngày sabát và coi đó là ngày thánh". (Xuất Hành 20, 8-11). Mỗi tuần lễ
đều tái diễn lại công trình sáng tạo của Thiên Chúa nơi tạo vật của Người.
Người Do Thái cũng dùng tuần lễ để kỷ niệm cuộc giải phóng của họ khỏi
cảnh nô lệ. "Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập và Đức Chúa,
Thiên Chúa của ngươi, đã dùng cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra
khỏi đó. Bởi vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử
hành ngày sabát". (Đệ Nhị Luật 5, 15). Khi người Do Thái tuân giữ ngày
sabát, họ liên tục tái thể hiện chất lượng thế giới của họ.
Cũng còn có những lý do khác cho việc nghỉ ngày thứ bảy, như nhu cầu bồi
dưỡng thể xác và tinh thần của con người. Ý tưởng này đã có từ thời dân Do
Thái lưu đày bên Babylon. Người Babylon kiêng một số ngày nào đó trong
tháng, đó là các ngày 7, 14, 19, 21 và 28. Trong những ngày này, vua của họ
không được làm một số hoạt động nào đó.
Chúng ta còn có một gợi ý khác về tên gọi của ngày thứ bảy. Đối với người
Rôma, ngày của thần Saturn, hay Saturday, là một ngày của điềm gở, mọi
công việc đều trục trặc, vì thế không nên giao chiến, cũng không nên đi lại
trong ngày này. Người thận trọng không ai muốn gặp những rủi ro do Saturn
đem đến. Theo sử gia Tacitusm, ngày thứ bảy được cử hành để kính thần
Saturn vì "trong bảy ngôi sao chi phối công việc của loài người, Saturn (sao
Thổ) có địa vị và quyền năng cao nhất".
Từ thế kỷ 3, tuần lễ 7 ngày đã phổ biến khắp đế quốc Rôma và mỗi ngày
được dành để kính một trong 7 hành tinh. Theo khoa thiên văn thời đó, 7
hành tinh này gồm cả mặt trời và mặt trăng, nhưng không gồm trái đất. Thứ
tự mà các hành tinh chi phối các ngày trong tuần là: Mặt trời (Sun), Mặt
trăng (Moon), sao Hỏa (Mars), sao Thủy (Mercury), sao Mộc (Jupiter), sao
Kim (Venus) và sao Thổ (Saturn).
Chúng ta ngày nay dễ quên rằng nguồn gốc tên gọi của các ngày trong tuần
thực sự là từ tên những "hành tinh" được biết đến ở Rôma hai ngàn năm
trước đây. Theo quan niệm thời đó, những hành tinh này tác động trực tiếp
tới đời sống mỗi ngày trong tuần của chúng ta. Trong các ngôn ngữ châu Âu
ngày nay, tên các ngày trong tuần vẫn còn được gọi theo tên của các hành
tinh.
Khi muốn xóa bỏ óc mê tín dị đoan, người ta đã thay thế các tên gọi ngày
theo hành tinh bằng các con số từ 1 đến 7. Tại Israel ngày nay, các ngày
trong tuần vẫn được gọi bằng số thứ tự.
Việc chia thời gian thành tuần lễ là một bước tiến mới của con người trong
việc làm chủ thế giới và con đường đạt tới khoa học. Tuần lễ là một tập hợp
các ngày do con người ấn định, chứ không phải do sự áp đặt của những sức
mạnh thiên nhiên (vì ảnh hưởng của các hành tinh đều là vô hình, chỉ có thể
đánh giá bằng những hiệu quả của chúng). Bằng cách tìm hiểu những chuyển
động đồng đều của các thiên thể và bằng cách hình dung ra rằng các sức
mạnh từ nơi xa lặp đi lặp lại có thể chi phối thế giới, con người đã chuẩn bị
cho một kho tư tưởng mới, một cuộc giải phóng mình khỏi sự tù túng của cái
lặp đi lặp lại. Các hành tinh là các sức mạnh bên ngoài thế giới, sẽ dẫn đưa
nhân loại đi vào thế giới của lịch sử.
Tuần lễ dựa theo các hành tinh là một con đường dẫn tới khoa chiêm tinh.
Và khoa chiêm tinh là một bước dẫn tới các kiểu tiên tri mới. Các hình thức
tiên tri cổ xưa có thể gợi ý cho chúng ta tại sao khoa chiêm tinh là một bước
tiến tới thế giới khoa học. Các nghi tiết cổ xưa gói ghém một thứ "khoa học"
phức tạp để sử dụng các bộ phận của một con vật bị sát tế để tiên tri về tương
lai của người dâng hiến tế. Ở Sindh, trong thung lũng Indus, vào giữa thế kỷ
19, các thầy bói đã sử dụng xương vai của con cừu sát tế để bói toán với một
kỹ thuật khá tinh vi. Thầy bói toán cắt xương thành mươi hai mảnh, gọi là
"nhà", mỗi mảnh trả lời một câu hỏi khác nhau về tương lai. Nếu mảnh thứ
nhất sạch sẽ trơn tru, đó là dấu thuận lợi và người được bói sẽ là người tốt.
Nếu trong nhà thứ "hai" là nhà thuộc đoàn súc vật, mảnh xương sạch sẽ và
trơn tru, thì đoàn súc vật sẽ lớn mạnh, nhưng nếu trong xương có những
đường sọc đỏ và trắng, đó là dấu hiệu sẽ có kẻ trộm tới thăm.
Tại vùng Assyro - Babylon, người ta dùng bói toán bằng gan con vật sát tế.
Hình như khoa bói toán này đã được sử dụng ở Trung Hoa vào thời Đồ
Đồng. Sau đó người Rôma và nhiều dân tộc khác cũng áp dụng. Thầy bói sẽ
đoán tương lai dựa vào hình thù, kích cỡ của lá gan và lượng máu trong gan.
Mọi hoạt động hay kinh nghiệm của con người đều trở thành một điềm báo
để trả lời cho niềm khao khát hiểu biết tương lai của con người.
Tương phản với những hình thức bói toán này, khoa chiêm tinh có tính chất
tiến bộ. Chiêm tinh khác biệt với chúng trong việc khẳng định về sức mạnh
liên tục, đều đặn của một quyền lực từ xa. Ảnh hưởng của các thiên thể đối
với những biến cố trên trái đất được mô tả là những sức mạnh vô hình, có
chu kỳ, lặp đi lặp lại giống như những sức mạnh sẽ điều khiển đầu óc khoa
học.
Không lạ gì khi con người cổ xưa kinh ngạc trước bầu trời và bị mê hoặc bởi
những vì sao. Những ngọn đèn trời đầu tiên này từng thu hút...
Mục lục
Những phát hiện về vạn vật và con người, Giới thiệu
Cuốn sách được lược dịch từ tác phẩm The discovers - A history of Man s
Search to know his world and himself của tác giả Daniel J. Boorstin.
Người hùng của cuốn sách này là Con Người - nhà khám phá. Thế giới theo
góc nhìn của văn hóa phương Tây hôm nay - những quan niệm về thời gian,
đất và biển, các vật thể của bầu trời và thân thể của chúng ta, các loài thực
vật và động vật, lịch sử và các xã hội loài người của quá khứ và hiện tại - thế
giới ấy đã được mở ra cho chúng ta bởi vô số những nhà khám phá như
Colombô. Trong suốt những quá khứ xa xăm, họ vẫn là những con người vô
danh. Khi chúng ta càng đến gần hiện tại, họ xuất hiện trong ánh sáng của
lịch sử, với muôn vàn cá tính cũng đa dạng như bản tính con người. Các
cuộc khám phá đã trở thành những thiên tiểu sử, những câu chuyện bất ngờ
giống như sự bất ngờ của những thế giới mới mà các nhà khám phá đã mở ra
cho chúng ta.
Những trở ngại cho việc khám phá - những ảo tưởng của nhận thức - cũng là
thành phần câu chuyện của chúng ta. Chỉ khi chúng ta biết đối chiếu với cái
nền nhận thức thông thường và huyền thoại đã bị lãng quên của thời đại họ,
chúng ta mới bắt đầu cảm nhận được sự dũng cảm, quyết liệt, những gắng
sức phi thường và đầy trí tưởng tượng của những nhà khám phá vĩ đại. Họ đã
phải chiến đấu chống lại những "sự kiện" và những giáo điều của con người
trí thức đương thời. Tôi đã cố gắng tìm lại những ảo tưởng ấy - về trái đất,
các lục địa và đại dương trước thời Colombô và Balboa, Magellan và thuyền
trưởng Cook; về vũ trụ trước thời Copernic, Galileo và Kepler; về cơ thể con
người trước thời Paracelsus, Vesalius và Harvey; về thực vật và động vật
trước thời Ray và Linnaeus, Darwin và Pasteur; về quá khứ trước thời
Petrarch và Winckelmann, Thomsen và Schliemann; về tài nguyên trước thời
Adam Smith và Keynes; về thế giới vật lý trước thời Newton, Dalton và
Faraday, Clerk Maxwell và Einstein.
Tôi đã đặt một ít câu hỏi kỳ lạ. Tại sao người Trung Quốc đã không "khám
phá" ra châu Âu hay châu Mỹ? Tại sao người Ả rập đã không vượt biển vòng
quanh châu Phi và vòng quanh thế giới? Tại sao con người phải mất rất lâu
mới biết rằng trái đất xoay quanh mặt trời? Tại sao người ta đã bắt đầu tin
rằng động và thực vật được phân chia thành những "loài" (species)? Tại sao
mãi về sau này người ta mới khám phá ra những sự kiện của thời tiền sử và
tiến bộ của nền văn minh?
Tôi chỉ đề cập tới một số ít các phát minh trọng yếu - đồng hồ, la bàn, kính
viễn vọng và kính hiển vi, máy in và chữ in - là những dụng cụ cốt yếu cho
việc khám phá. Tôi đã không trình bày việc hình thành các cơ chế chính trị,
các cuộc chiến tranh, sự hưng thịnh và suy tàn của các đế quốc. Tôi đã
không bàn đến văn hóa, câu chuyện về con người sáng tạo, về kiến trúc, hội
họa, điêu khắc, âm nhạc tiêu điểm và văn học, tuy rằng những điều này đã
gia tăng niềm vui sướng cho kinh nghiệm của loài người. Tiêu điểm của tôi
luôn luôn là nhu cầu hiểu biết của loài người - biết là tất cả chủ đề của cuốn
sách này.
Về tổng thể, dàn bài của sách này đi theo trình tự thời gian. Về chi tiết, nó là
một lược đồ chọn lọc. Mỗi phần trong mười lăm phần của sách sẽ trùng lặp
về thời gian với phần đi trước vì câu chuyện đi từ thời cổ đại tới hiện đại.
Tôi bắt đầu với đề tài Thời Gian, là chiều kích bí ẩn và khó nắm bắt nhất
trong các chiều kích sơ đẳng của kinh nghiệm. Rồi tôi chuyển sang những
viễn cảnh mở rộng của con người về Trái Đất và Biển Cả. Tiếp theo là Thiên
Nhiên - những vật thể trong vũ trụ và trên trái đất, thực vật và động vật, cơ
thể con người và các tiến trình của nó. Cuối cùng là Xã Hội, với khám phá là
quá khứ của loài người không giống như chúng ta vẫn tưởng, tiếp đến là việc
con người khám phá chính mình và những Vùng Tối trong nguyên tử.
Đây là một câu chuyện không có đoạn kết. Tất cả thế giới này vẫn còn là
một Tân Thế Giới. Những lời hứa hẹn nhất được viết trên bản đồ tri thức của
nhân loại là terra incognita - miền đất lạ.
Bản dịch sau đây của Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy, Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2001.
Những phát hiện về vạn vật và con người, P 1 - Chương 1
"Thượng Đế đã tạo dựng các hành tinh và các ngôi sao không phải để chúng
thống trị con người, nhưng để chúng cũng như các tạo vật khác, vâng phục
và phục vụ con người" - Paracelsus (1541)
Từ cực tây bắc Greenland tới cực nam Patagonia, người ta đâu đâu cũng đón
chào trăng mới - một thời gian để ca hát và cầu nguyện, ăn uống và vui chơi.
Người Eskimô mở một lễ hội, trong đó các pháp sư của họ cử hành, họ tắt
hết đèn rồi vui vẻ với những người phụ nữ. Các thổ dân Nam Phi hát một bài
thánh ca: "Trăng Mới!.. Kính chào, Kính chào Trăng Mới!". Dưới ánh trăng,
mọi người đều thích khiêu vũ. Và mặt trăng còn có những sự quyến rũ khác.
Theo lời kể của sử gia Tacitus cách đây gần 2000 năm, những cộng đồng
người Đức cổ đại thường tổ chức lễ hội vào những ngày trăng non hay trăng
tròn, là "những mùa được coi là tốt đẹp nhất để bắt đầu công việc làm ăn".
Khắp nơi ta đều tìm thấy những ý nghĩa thần thoại, huyền bí và lãng mạn về
mặt trăng - mặt trăng được gọi là chị Hằng, chị Nguyệt; mặt trăng gắn liền
với truyện Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; mặt trăng được coi là khung cảnh lý
tưởng để đôi trai gái hẹn hò tình tự. Nhưng ý nghĩa sâu xa và quan trọng nhất
của mặt trăng có liên quan tới việc đo lường thời gian; mặt trăng được gọi là
nguyệt, là một tuần trăng, nghĩa là một tháng. Người cổ xưa đã biết dùng mặt
trăng làm một đơn vị đo lường thời gian.
Tuy việc sử dụng mặt trăng làm đơn vị thời gian này khá đơn giản, nhưng nó
từng là một cạm bẫy đối với đầu óc ngây thơ của con người. Tính tháng theo
mặt trăng rất tiện lợi, vì khắp nơi trên mặt đất đều có thể nhìn thấy các chu
kỳ trăng, thế nhưng nó dẫn người ta vào ngõ cụt. Điều mà các thợ săn và
nông dân cần có một lịch các mùa - một cách để dự báo sẽ có mưa hay tuyết,
nóng hay lạnh. Còn bao lâu nữa mới tới thời kỳ gieo trồng? Khi nào sẽ có
đợt sương giá đầu tiên? Khi nào sẽ có mưa lũ?
Mặt trăng không giúp được bao nhiêu cho những nhu cầu ấy. Thực ra, những
chu kỳ của mặt trăng tương ứng một cách kỳ lạ với chu kỳ kinh nguyệt của
phụ nữ, vì một tuần trăng, nghĩa là một thời gian cần thiết để mặt trăng trở về
cùng một vị trí trong bầu trời, là hơn kém 28 ngày và một người phụ nữ có
thai có thể trông chờ sẽ sinh con sau 10 tuần trăng này. Nhưng một năm tính
theo mặt trời - cách đo lường chính xác các ngày giữa các mùa trở về - là
365 1/4 ngày. Các chu kỳ của mặt trăng là do chuyển động của mặt trăng
xoay quanh trái đất cùng lúc với trái đất xoay quanh mặt trời. Quỹ đạo của
mặt trăng hình êlíp và rời xa quỹ đạo của trái đất với mặt trời một góc
khoảng 5 độ. Đây là lý do tại sao nhật thực không xảy ra hằng tháng.
Các chu kỳ của mặt trăng không tương ứng với các chu kỳ của mặt trời, đây
là một sự kiện gây thắc mắc và kích thích suy nghĩ của con người. Giá mà
người ta có thể tính toán được chu kỳ các mùa và các năm bằng cách chỉ cần
nhân lên các chu kỳ của mặt trăng thì việc tính toán đỡ rắc rối cho người ta
biết bao. Nhưng nếu như vậy, có lẽ chúng ta cũng mất đi động cơ để nghiên
cứu về bầu trời và trở thành những nhà toán học.
Như chúng ta biết ngày nay, các mùa trong năm bị chi phối bởi các chuyển
động của trái đất xoay quanh mặt trời. Mỗi chu kỳ các mùa đánh dấu việc
trái đất trở về vị trí cũ của nó trên quỹ đạo, một chuyển động từ một điểm
phân (hay điểm chí) sang điểm kế tiếp. Loài người cần có một lịch để sinh
hoạt trong mùa. Phải bắt đầu thế nào?
Người Babylon cổ đại bắt đầu với lịch mặt trăng và tiếp tục duy trì nó. Sự cố
chấp của họ với các chu kỳ mặt trăng trong việc làm lịch đã tạo ra những hậu
quả nghiêm trọng.
Khi tìm cách đo chu kỳ các mùa theo bội số của các chu kỳ mặt trăng, họ đã
khám phá ra, khoảng năm 432 trước C.N., chu kỳ 19 năm gọi là chu kỳ
Mêtônic (theo tên của nhà thiên văn Mêtôn). Họ thấy rằng nếu dùng một chu
kỳ 19 năm, gồm 7 năm có 13 tháng và 12 năm chỉ có 12 tháng, họ có thể tiếp
tục sử dụng các chu kỳ rõ ràng thuận tiện của mặt trăng làm cơ sở để tính
lịch của họ. Việc họ chèn vào một tháng phụ trội tránh được cái bất tiện của
một năm "trôi nổi" trong đó các mùa dần dần trôi nổi theo các tháng mặt
trăng, khiến không thể biết được tháng nào sẽ bắt đầu một mùa mới. Lịch
Mêtônic với chùm 19 năm quá phức tạp không tiện cho việc sử dụng hằng
ngày.
Người Ai Cập hầu như tránh được những quyến rũ của mặt trăng. Như
chúng ta biết, họ là những người đầu tiên khám phá ra thời gian của năm mặt
trời và xác định nó một cách cụ thể và thực dụng. Giống như với các thành
tựu quan trọng khác của nhân loại, chúng ta biết được cái gì rồi, nhưng vẫn
còn thắc mắc về cái tại sao, cái thế nào và cả cái khi nào. Thắc mắc thứ nhất
là tại sao lại do người Ai cập tìm ra. Người Ai Cập không có sẵn những dụng
cụ thiên văn được biết đến trong thế giới cổ đại. Họ không có những thiên tài
toán học xuất sắc. Khoa thiên văn của họ còn rất thô sơ so với khoa thiên văn
của người Hy Lạp và các dân tộc khác ở vùng Địa Trung Hải và chịu ảnh
hưởng mạnh bởi các nghi tiết tôn giáo. Nhưng có lẽ vào khoảng 2500 trước
C.N., họ đã mường tượng ra các dự đoán thời điểm mặt trời mọc hay mặt
trời lặn sẽ chiếu dọi lên đỉnh của một tháp kỷ niệm, nhờ đó họ tăng thêm
cảnh rực rỡ cho các lễ nghi hay các cuộc mừng kỷ niệm của họ.
Phương thức làm lịch của Babylon sử dụng chu kỳ mặt trăng và điều chỉnh
các mùa và năm mặt trời bằng cách chèn thêm một tháng, nên tỏ ra bất tiện.
Những sự tùy tiện của các địa phương thắng thế. Tại Hy Lạp, các miền đất
nước bị phân cách bởi các núi đồi và các vùng biển và các đồng bằng phì
nhiêu, mỗi tiểu quốc có lịch riêng cho mình, tùy tiện "chèn vào" tháng phụ
trội để đánh dấu một lễ hội địa phương hay đáp ứng các nhu cầu chính trị.
Kết quả là làm hỏng chính mục đích của lịch - một khung thời gian để giúp
quy tụ người ta lại với nhau, giúp thực hiện dễ dàng các kế hoạch chung, như
các thỏa thuận về thời kỳ bắt đầu gieo trồng và phân phối hàng hóa.
Người Ai Cập không có gen toán học của người Hy Lạp, nhưng họ đã giải
quyết được vấn đề thực tiễn. Họ đã phát minh ra một lịch phục vụ cho các
nhu cầu hằng ngày trên khắp đất nước họ. Ngay từ năm 3200 trước C. N.,
toàn vùng thung lũng sông Nile đã thống nhất với châu thổ sông Nile thành
một đế quốc duy nhất trong suốt 3000 năm, mãi cho tới Thời đại Clêôpatra.
Sự thống nhất chính trị còn được sự hỗ trợ của thiên nhiên. Giống như các
thiên thể trên bầu trời, sông Nile cũng mang một dòng chảy tự nhiên êm đềm
và thơ mộng. Là con sông dài nhất ở châu Phi, sông Nile trải dài 4 ngàn dặm
từ đầu nguồn xa tắp, thu gom lượng nước mưa và tuyết dồi dào của các cao
nguyên Êtiôpia và toàn thể miền đông bắc của lục địa trong một dòng sông
lớn duy nhất và đổ ra Địa Trung Hải. Người cổ đại dựa theo gợi ý của
Herodotus đã gọi Ai Cập là "quà tặng của sông Nile". Việc đi tìm các nguồn
của sông Nile, giống như việc đi tìm Chén Thánh, chất chứa vô số những ý
nghĩa huyền bí và đã kích thích những nhà thám hiểm gan dạ vào thế kỷ 19.
Sông Nile đã làm hoa màu tươi tốt, tạo thuận lợi cho nền thương mại và
ngành kiến trúc của Ai Cập. Là đường giao thông thương mại lớn, sông Nile
còn là đường vận tải các vật liệu để xây dựng các đền thờ và kim tự tháp đồ
sộ. Một cây tháp bằng đá granít nặng 3 nghìn tấn có thể được khai thác ở
Aswan rồi được vận chuyển 2 trăm dặm xuôi dòng sông tới thành Thebes.
Sông Nile nuôi dưỡng các thành phố cắm dọc hai bên bờ sông. Chẳng lạ gì
người Ai Cập gọi sông Nile là "biển" và trong Kinh Thánh nó được gọi là
"Sông Cả".
Nhịp chảy của sông Nile cũng chính là nhịp chảy của đời sống Ai Cập. Mực
nước sông dâng lên hằng năm định ra lịch gieo trồng và gặt hái với ba mùa:
tưới tiêu, tăng trưởng và thu hoạch. Nước lũ của sông Nile từ cuối tháng 6
đến cuối tháng 10 bồi nhiều đất phù sa phì nhiêu, giúp cho hoa màu được
gieo trồng và tăng trưởng từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 2, được thu hoạch
từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 6. Vừa đều đặn vừa cần thiết cho đời sống
giống như mặt trời, mực nước sông Nil dâng lên đánh dấu cho năm của sông
Nil. Hiển nhiên, lịch Ai Cập sơ khởi là một "đồng hồ sông Nil" - một cây
thước đơn sơ đánh dấu mực nước sông dâng lên hằng năm. Chỉ cần tính toán
niên lịch sông Nil trong một ít năm cũng cho thấy rõ nó không tương ứng
với các chu kỳ mặt trăng. Nhưng ngay từ rất sớm, người Ai Cập đã khám
phá ra rằng có thể làm ra một lịch về mùa rất hữu ích với mười hai tháng,
mỗi tháng gồm ba mươi ngày, cộng thêm 5 ngày vào cuối năm, thành một
năm 365 ngày. Đó là lịch "dân sự", hay "lịch sông Nile, mà người Ai Cập đã
bắt đầu sử dụng ngay từ năm 4241 trước C.N".
Không dùng chu kỳ tiện dụng của mặt trăng, người Ai Cập đã tìm ra một ký
hiệu khác để đánh dấu năm của họ: sao Thiên Lang, ngôi sao sáng nhất trên
bầu trời. Mỗi năm một lần, sao Thiên Lang mọc vào buổi sáng cùng đường
thẳng với mặt trời.
Sao Thiên Lang mọc hằng năm tương ứng với giữa mùa nước lũ của sông
Nile, đã trở thành đầu năm theo lịch Ai Cập. Sự kiện này được đánh dấu
bằng một lễ hội đầu năm gồm 5 ngày (những ngày không nằm trong các
tháng), được cử hành để tôn kính lần lượt sinh nhật của Osiris, của thần
Horus (con thần Osiris), thần Set (thù địch của Osiris), của Isis (chị và vợ
của Osiris) và của Nepththys (vợ của Set).
Hiển nhiên, vì năm mặt trời không đúng 365 ngày, nên trải qua nhiều thế kỷ,
năm Ai Cập 365 ngày đã trở thành một "năm trôi nổi" với mỗi tháng được
xác định dần dần xảy ra vào một mùa khác nhau. Sự sai biệt này quá nhỏ
khiến phải thật nhiều năm, dài hơn một đời người rất nhiều, thì sự sai biệt
này mới gây xáo trộn cho đời sống hằng ngày. Mỗi tháng di chuyển qua mọi
mùa trong suốt một nghìn bốn trăm sáu mươi năm. Hơn nữa, lịch Ai Cập này
ích lợi hơn bất kỳ lịch nào khác vào thời đó nên đã được Julius Cesar dùng
để làm lịch Julian của ông. Nó tồn tại suốt thời Trung Cổ và vẫn còn được
Copernic sử dụng trong các bảng tính thiên thể của ông vào thế kỷ 16.
Mặc dầu với lịch hằng ngày của mình, người Ai Cập đã thành công trong
việc tuyên bố họ không lệ thuộc mặt trăng, nhưng mặt trăng vẫn còn tạo sự
mê hoặc cho con người cổ đại. Nhiều dân tộc, kể cả người Ai Cập, vẫn dùng
chu kỳ mặt trăng để hướng dẫn các lễ hội tôn giáo và các ngày kỷ niệm
huyền bí của mình. Ngay cả ngày nay, những người chịu ảnh hưởng tín
ngưỡng mạnh vẫn bị chi phối bởi các chu kỳ của mặt trăng. Những bất tiện
của việc sống theo lịch mặt trăng trở thành một bằng chứng cho niềm tin tôn
giáo hằng ngày.
Người Do Thái, chẳng hạn, vẫn theo âm lịch của họ và mỗi tháng âm lịch Do
Thái vẫn bắt đầu khi trăng mới xuất hiện. Để năm âm lịch của họ phù hợp
với năm theo mùa, người Do Thái đã thêm vào một tháng cho mỗi năm
nhuận và lịch Do Thái đã trở thành một môn học kỳ cục của các giáo sĩ Do
Thái. Năm âm lịch Do Thái gồm 12 tháng, mỗi tháng 29 hay 30 ngày, tổng
cộng 354 ngày. Để làm cho đủ năm dương lịch, những năm nhuận thêm vào
một tháng, mỗi tháng 29 hay 30 ngày, tổng cộng 354 ngày. Để làm cho đủ
năm dương lịch, những năm nhuận thêm vào một tháng cho các năm thứ ba,
sáu, tám, mười một, mười năm. Thỉnh thoảng cần có các sự điều chỉnh khác
cho các dịp lễ của họ xảy ra đúng mùa - ví dụ, để đảm bảo cho dịp lễ Vượt
Qua là lễ mùa xuân diễn ra sau xuân phân. Trong Kinh Thánh, hầu hết các
tháng đều lấy tên Babylon thay vì tên Do Thái.
Kitô giáo theo Do Thái giáo trong hầu hết các lễ của mình, đã duy trì sự gắn
bó của mình với năm âm lịch. Các "ngày lễ di động" của Giáo Hội không cố
định theo năm dương lịch vì Giáo Hội muốn giữ cho các ngày lễ ấy tương
ứng với các chu kỳ của mặt trăng. Những ngày lễ này vẫn còn gợi lại cho
chúng ta niềm hứng cảm ban đầu của luồng ánh sáng rực rỡ trên bầu trời ban
đêm. Hiển nhiên ngày lễ di động quan trọng nhất của Kitô giáo là lễ Phục
Sinh, cử hành cuộc sống lại của Chúa Giêsu. Theo Sách Kinh Chung của
Giáo Hội Anh giáo, ngày lễ Phục Sinh luôn luôn rơi vào chủ nhật đầu tiên
sau trăng tròn, tức là ngày chủ nhật đầu tiên sau ngày 21 tháng ba hoặc ngày
kế tiếp, và nếu trăng tròn xảy ra vào một ngày chủ nhật, thì lễ Phục Sinh sẽ
rơi vào ngày chủ nhập kế tiếp. Có cả chục ngày lễ khác của Giáo Hội được
ấn định dựa vào ngày lễ Phục Sinh và ngày âm lịch của lễ này, kết quả là lễ
Phục Sinh chi phối khoảng 17 tuần lễ trong lịch Giáo Hội. Việc ấn định ngày
lễ Phục Sinh - hay nói cách khác, việc ấn định lịch - đã là một vấn đề và một
biểu tượng lớn. Vì sách Kinh Thánh Tân Ước kể lại rằng Chúa Giêsu bị
đóng đinh vào ngày lễ Vượt Qua của Do Thái giáo, cho nên việc kỷ niệm
Chúa Sống Lại vào ngày lễ Phục Sinh rõ ràng gắn liền với lịch Do Thái. Kết
quả tất yếu là việc ấn định ngày lễ Phục Sinh sẽ tùy thuộc vào lối tính toán
phức tạp của Thượng Hội Đồng Do Thái giáo trong việc ấn định ngày lễ
Vượt Qua.
Nhiều Kitô hữu thời kỳ đầu giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen nên đã xác
định rằng Chúa Giêsu chết vào ngày thứ sáu và sống lại vào ngày Chủ nhật
Phục Sinh tiếp theo. Nhưng nếu ngày lễ này được mừng theo âm lịch Do
Thái, thì không có gì bảo đảm là lễ Phục Sinh phải rơi vào ngày Chủ nhật.
Cuộc tranh cãi gay gắt về lịch đã gây ra cuộc ly giáo đầu tiên giữa Giáo Hội
Chính Thống Phương Đông với Giáo Hội Công Giáo Rôma. Các Kitô hữu
phương đông theo âm lịch nên tiếp tục duy trì lễ Phục Sinh vào ngày 14 của
tháng âm lịch, bất kể ngày này có thể là chủ nhật hay không. Tại Công Đồng
Chung đầu tiên của Kitô giáo họp ở Nicea bên Tiểu á vào năm 325, một
trong những vấn đề phải thống nhất trong toàn thế giới Kitô giáo là việc ấn
định ngày lễ Phục Sinh. Người ta đã ấn định một ngày chung sao cho cả hai
giáo hội đều duy trì âm lịch và đồng thời bảo đảm cho ngày Phục Sinh luôn
luôn rơi vào Chủ nhật.
Nhưng điều này không giải quyết được vấn đề. Để có thể ấn định chung,
phải có người lo việc dự báo những chu kỳ mặt trăng và đưa nó vào trong
dương lịch. Công Đồng Nicea đã trao nhiệm vụ này cho giám mục thành
Alexandria. Tại trung tâm thiên văn cổ kính ấy, vị giám mục này phải dự báo
những chu kỳ của mặt trăng cho tất cả các năm trong tương lai. Sự bất đồng
về cách dự báo những chu kỳ đặc biệt này đã dẫn đến một sự phân rẽ trong
Giáo Hội, với kết quả là các miền khác nhau trên thế giới tiếp tục mừng lễ
Phục Sinh vào các chủ nhật khác nhau.
Việc sửa đổi lịch do Giáo Hoàng Gregorio XIII thực hiện là cần thiết, vì lịch
mà Julius Cesar đã mượn của Ai Cập và toàn thể phương Tây đã sử dụng
cho tới thời đó thì không đủ chính xác để đo chu kỳ dương lịch. Năm dương
lịch thực tế - thời gian cần thiết để trái đất quay đủ một vòng quanh quỹ đạo
mặt trời - là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 46 giây. Nghĩa là ít hơn 11 phút 14
giây so với con số 365 1/4 ngày của năm theo lịch Ai Cập. Kết quả là các
ngày tháng trong lịch dần dần mất đi sự tương quan với các sự kiện của mặt
trời và các mùa. Ngày trọng yếu để tính ngày lễ Phục Sinh là ngày xuân
phân, đã được Công Đồng Nicea ấn định là ngày 21 tháng 3. Nhưng những
sự thiếu chính xác tích lũy dần trong lịch Julian đã khiến cho ngày xuân phân
của năm 1582 thực sự rơi vào ngày 11 tháng 3.
Giáo Hoàng Gregorio XIII là một nhà cải cách đầy nghị lực trong một số
lĩnh vực. Ngài đã quyết tâm tu sửa niên lịch một cách dứt khoát. Năm 1582,
ngài đã truyền rằng ngày kế tiếp sau 4 tháng 10 ngày là ngày 15 tháng 10.
Như thế cũng có nghĩa là xuân phân của năm tới sẽ rơi vào ngày 21 tháng 3,
đúng theo đòi hỏi của dương lịch các mùa. Thế là niên lịch theo mùa đã được
hồi phục lại theo niên lịch đã có năm 325. Những năm nhuận của lịch Julian
cũ đã được điều chỉnh lại. Để tránh tích lũy sự khác biệt do 11 phút mỗi
năm, lịch Gregorio đã loại bỏ những ngày nhuận trong các năm có hai số 0
tận cùng, trừ khi chúng chia chẵn cho 400. Lịch này đã trở thành lịch mới
được phương Tây sử dụng cho tới nay.
Trở lại năm 1582, khi Giáo Hoàng Gregorio cắt bớt 10 ngày trong lịch năm
ấy, đã có những sự phàn nàn và xáo trộn. Những người làm thuê đòi hưởng
đủ số lương cho tháng đã bị cắt ngắn đó; các chủ nhân từ chối. Người ta
phản đối vì tuổi thọ mình bị rút ngắn do sắc lệnh của Giáo Hoàng. Nhưng
khi nước Anh và các thuộc địa châu Mỹ họp lại để thực hiện việc đổi lịch,
Benjamin Franklin, 46 tuổi khi ông bị rút mất 10 ngày đời mình, đã hóm
hỉnh viết cho các độc giả quyển Poor Riachard s Almanach rằng họ phải vui
mừng mới đúng: "Độc giả thân mến, bạn đừng ngạc nhiên, cũng đừng tức
giận vì việc bị rút bớt 10 ngày, cũng đừng nuối tiếc đã bị mất nhiều thời giờ
như thế, nhưng hãy tự an ủi vì các chi tiêu của bạn được giảm nhẹ và tâm trí
bạn được thảnh thơi hơn".
Thế giới không bao giờ chấp nhận hoàn toàn lịch cải cách Gregorio. Giáo
Hội Chính Thống Phương Đông vẫn theo lịch Julian để tính ngày lễ Phục
Sinh của mình. Tuy nhiên, đối với các sinh hoạt thường ngày, toàn thế giới
Kitô giáo đều chấp nhận dương lịch vì nó tiện lợi cho việc nhà nông và công
việc buôn bán. Còn Hồi Giáo vì muốn trung thành với lời tiên tri Môhamét
của mình và với những lời dạy của Kinh Koran, nên vẫn duy trì âm lịch.
Tại Trung Hoa, cuộc cách mạng 1911 đã thực hiện một cuộc cải cách và đưa
vào sử dụng lịch phương Tây bên cạnh lịch truyền thống của Trung Hoa.
Năm 1929 Liên Xô muốn xóa bỏ lịch Kitô giáo, nên đã thay thế lịch
Gregorio bằng lịch Cách mạng. Tuần lễ có 5 ngày, 4 ngày làm việc, ngày thứ
năm nghỉ và mỗi tháng có sáu tuần. Những ngày phụ trội để làm cho năm đủ
365 hay 366 ngày sẽ là những ngày nghỉ. Tên các tháng vẫn giữ theo lịch
Gregorio, nhưng tên các ngày trong tuần được gọi đơn giản bằng con số.
Đến năm 1940, Liên Xô đã quay trở lại với lịch Gregorio quen thuộc.
Những phát hiện về vạn vật và con người, P 1 - Chương 2
Bao lâu con người còn đánh dấu đời sống mình bằng những chu kỳ của thiên
nhiên - các mùa đắp đổi, trăng non hay trăng tròn - thì con người vẫn còn bị
thiên nhiên giam hãm. Nếu con người muốn tự lập và đổi mới thế giới bằng
những sáng tạo của mình, họ cần phải có cách đo lường thời gian riêng của
mình. Và những chu kỳ nhân tạo này sẽ trở nên đa dạng một cách kỳ diệu.
Có lẽ tuần lễ là một trong những nhóm đơn vị thời gian nhân tạo có sớm nhất
trong lịch sử. Tuần lễ không phải là một sáng tạo của phương Tây, cũng
không phải ở đâu tuần lễ cũng gồm 7 ngày. Trên khắp thế giới, người ta thấy
có ít nhất là 15 kiểu tuần lễ khác nhau, với những tập hợp từ 5 đến 10 ngày.
Kiểu tuần lễ được sử dụng phổ biến nhất không phải một tập hợp số ngày
đặc biệt nào, mà là do nhu cầu và ước muốn có một tập hợp nào đó mà thôi.
Con người có một ước muốn mãnh liệt và thúc bách xử lý thời gian, sử dụng
nó cho lợi ích của mình nhiều hơn những gì thiên nhiên cống hiến.
Tuần lễ bảy ngày phổ biến hiện nay bắt nguồn từ nhu cầu và sự thỏa thuận
chung của người ta, chứ không phải do pháp chế của một nhà nước nào. Nó
đã xảy ra thế nào? Tại sao? Khi nào?
Tại sao tuần lễ lại là 7 ngày?
Người Hy Lạp cổ hình như không có tuần lễ. Người Rôma sống theo tuần lễ
8 ngày. Các nông dân làm việc ở đồng ruộng 7 ngày và ra thành phố ngày
thứ 8 - ngày chợ phiên. Đây là một ngày nghỉ ngơi và giải trí. Không rõ tại
sao người Rôma ấn định tuần lễ 8 ngày và tại sao cuối cùng họ đã đổi thành
7 ngày. Con số 7 có một sức lôi cuốn kỳ bí hầu như ở khắp nơi. Người Nhật
cho rằng có 7 vị thần hạnh phúc, thành Rôma được xây trên 7 ngọn đồi,
người cổ đại kể ra 7 kỳ quan của thế giới và các Kitô hữu thời Trung Cổ liệt
kê ra 7 mối tội đầu. Hình như không có văn bản chính thức nào của chính
quyền Rôma để thay đổi tuần lễ từ 8 sang 7 ngày. Người Rôma đã sống theo
tuần lễ 7 ngày ngay từ đầu thế kỷ 3 sau C.N.
Chắc hẳn phải có những ý tưởng mới phổ biến nào đó về tuần lễ bảy ngày.
Một ý tưởng nổi bật là về ngày Sabát, hình như từ Do Thái du nhập vào
Rôma. Giới răn thứ hai truyền dạy, "Ngươi hãy nhớ ngày Sabát và coi đó là
ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của
ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi; ngày đó ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con
trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì
trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong
đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Đức Chúa đã chúc phúc
cho ngày sabát và coi đó là ngày thánh". (Xuất Hành 20, 8-11). Mỗi tuần lễ
đều tái diễn lại công trình sáng tạo của Thiên Chúa nơi tạo vật của Người.
Người Do Thái cũng dùng tuần lễ để kỷ niệm cuộc giải phóng của họ khỏi
cảnh nô lệ. "Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập và Đức Chúa,
Thiên Chúa của ngươi, đã dùng cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra
khỏi đó. Bởi vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử
hành ngày sabát". (Đệ Nhị Luật 5, 15). Khi người Do Thái tuân giữ ngày
sabát, họ liên tục tái thể hiện chất lượng thế giới của họ.
Cũng còn có những lý do khác cho việc nghỉ ngày thứ bảy, như nhu cầu bồi
dưỡng thể xác và tinh thần của con người. Ý tưởng này đã có từ thời dân Do
Thái lưu đày bên Babylon. Người Babylon kiêng một số ngày nào đó trong
tháng, đó là các ngày 7, 14, 19, 21 và 28. Trong những ngày này, vua của họ
không được làm một số hoạt động nào đó.
Chúng ta còn có một gợi ý khác về tên gọi của ngày thứ bảy. Đối với người
Rôma, ngày của thần Saturn, hay Saturday, là một ngày của điềm gở, mọi
công việc đều trục trặc, vì thế không nên giao chiến, cũng không nên đi lại
trong ngày này. Người thận trọng không ai muốn gặp những rủi ro do Saturn
đem đến. Theo sử gia Tacitusm, ngày thứ bảy được cử hành để kính thần
Saturn vì "trong bảy ngôi sao chi phối công việc của loài người, Saturn (sao
Thổ) có địa vị và quyền năng cao nhất".
Từ thế kỷ 3, tuần lễ 7 ngày đã phổ biến khắp đế quốc Rôma và mỗi ngày
được dành để kính một trong 7 hành tinh. Theo khoa thiên văn thời đó, 7
hành tinh này gồm cả mặt trời và mặt trăng, nhưng không gồm trái đất. Thứ
tự mà các hành tinh chi phối các ngày trong tuần là: Mặt trời (Sun), Mặt
trăng (Moon), sao Hỏa (Mars), sao Thủy (Mercury), sao Mộc (Jupiter), sao
Kim (Venus) và sao Thổ (Saturn).
Chúng ta ngày nay dễ quên rằng nguồn gốc tên gọi của các ngày trong tuần
thực sự là từ tên những "hành tinh" được biết đến ở Rôma hai ngàn năm
trước đây. Theo quan niệm thời đó, những hành tinh này tác động trực tiếp
tới đời sống mỗi ngày trong tuần của chúng ta. Trong các ngôn ngữ châu Âu
ngày nay, tên các ngày trong tuần vẫn còn được gọi theo tên của các hành
tinh.
Khi muốn xóa bỏ óc mê tín dị đoan, người ta đã thay thế các tên gọi ngày
theo hành tinh bằng các con số từ 1 đến 7. Tại Israel ngày nay, các ngày
trong tuần vẫn được gọi bằng số thứ tự.
Việc chia thời gian thành tuần lễ là một bước tiến mới của con người trong
việc làm chủ thế giới và con đường đạt tới khoa học. Tuần lễ là một tập hợp
các ngày do con người ấn định, chứ không phải do sự áp đặt của những sức
mạnh thiên nhiên (vì ảnh hưởng của các hành tinh đều là vô hình, chỉ có thể
đánh giá bằng những hiệu quả của chúng). Bằng cách tìm hiểu những chuyển
động đồng đều của các thiên thể và bằng cách hình dung ra rằng các sức
mạnh từ nơi xa lặp đi lặp lại có thể chi phối thế giới, con người đã chuẩn bị
cho một kho tư tưởng mới, một cuộc giải phóng mình khỏi sự tù túng của cái
lặp đi lặp lại. Các hành tinh là các sức mạnh bên ngoài thế giới, sẽ dẫn đưa
nhân loại đi vào thế giới của lịch sử.
Tuần lễ dựa theo các hành tinh là một con đường dẫn tới khoa chiêm tinh.
Và khoa chiêm tinh là một bước dẫn tới các kiểu tiên tri mới. Các hình thức
tiên tri cổ xưa có thể gợi ý cho chúng ta tại sao khoa chiêm tinh là một bước
tiến tới thế giới khoa học. Các nghi tiết cổ xưa gói ghém một thứ "khoa học"
phức tạp để sử dụng các bộ phận của một con vật bị sát tế để tiên tri về tương
lai của người dâng hiến tế. Ở Sindh, trong thung lũng Indus, vào giữa thế kỷ
19, các thầy bói đã sử dụng xương vai của con cừu sát tế để bói toán với một
kỹ thuật khá tinh vi. Thầy bói toán cắt xương thành mươi hai mảnh, gọi là
"nhà", mỗi mảnh trả lời một câu hỏi khác nhau về tương lai. Nếu mảnh thứ
nhất sạch sẽ trơn tru, đó là dấu thuận lợi và người được bói sẽ là người tốt.
Nếu trong nhà thứ "hai" là nhà thuộc đoàn súc vật, mảnh xương sạch sẽ và
trơn tru, thì đoàn súc vật sẽ lớn mạnh, nhưng nếu trong xương có những
đường sọc đỏ và trắng, đó là dấu hiệu sẽ có kẻ trộm tới thăm.
Tại vùng Assyro - Babylon, người ta dùng bói toán bằng gan con vật sát tế.
Hình như khoa bói toán này đã được sử dụng ở Trung Hoa vào thời Đồ
Đồng. Sau đó người Rôma và nhiều dân tộc khác cũng áp dụng. Thầy bói sẽ
đoán tương lai dựa vào hình thù, kích cỡ của lá gan và lượng máu trong gan.
Mọi hoạt động hay kinh nghiệm của con người đều trở thành một điềm báo
để trả lời cho niềm khao khát hiểu biết tương lai của con người.
Tương phản với những hình thức bói toán này, khoa chiêm tinh có tính chất
tiến bộ. Chiêm tinh khác biệt với chúng trong việc khẳng định về sức mạnh
liên tục, đều đặn của một quyền lực từ xa. Ảnh hưởng của các thiên thể đối
với những biến cố trên trái đất được mô tả là những sức mạnh vô hình, có
chu kỳ, lặp đi lặp lại giống như những sức mạnh sẽ điều khiển đầu óc khoa
học.
Không lạ gì khi con người cổ xưa kinh ngạc trước bầu trời và bị mê hoặc bởi
những vì sao. Những ngọn đèn trời đầu tiên này từng thu hút...
 





