Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
LỊCH SỬ

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 08h:40' 24-04-2024
Dung lượng: 548.2 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Thanh Xuân
Ngày gửi: 08h:40' 24-04-2024
Dung lượng: 548.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Albert Einstein
Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao
Tác giả:
Người dịch:
Đăng
214
200g
Quí I/2006
12x20cm
Tri thức
33.000 VNĐ
ngvietduc (TVE)
www.Sachvui.com
Mục lục
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Số trang:
Trọng lượng:
Ngày xuất bản:
Khổ:
Nhà xuất bản :
Giá bìa:
Tổng hợp
Ebook Tại
Tiểu sử EINSTEIN
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Hướng đến an ninh của nhân loại
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Sản xuất và lao động
Sản xuất và sức mua
Vài suy nghĩ về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Các triệu chứng bệnh hoạn của đời sống văn hóa
Văn hóa và phồn thịnh
Việc hợp tác trí tuệ
Đức và Pháp
Bàn về các nhóm thiểu số
Quốc tế khoa học
Bàn về tòa án trọng tài
Nước Mỹ và hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về vấn đề giải trừ quân bị
Một lời chia tay
Chủ nghĩa hòa bình tích cực
Thư gửi Sigmund Freud
Bàn về nghĩa vụ quân sự
Diễn văn tại hội nghị sinh viên về giải trừ quân bị
Vấn đề của chủ nghĩa hòa bình
Hướng đến việc loại bỏ nguy cơ chiến tranh
Phần II: Chính trị và chủ nghĩa hòa bình
Hòa bình
Trả lời phụ nữ Mỹ
Lời chúc mừng gửi nhà phê bình
Đám nhà báo
Bertrand Russell và tư duy triết học
Chào mừng nhà văn George Bernard Shaw Bài phát biểu nhân dịp sinh nhật lần thứ 70
của Arnold Berliner
Josef popper-lynkeus
H. A. Lorentz: Nhà bác học - nhân cách lớn
Hoạt động của H.A.Lorentz trong công vụ hợp tác quốc tế
Các khóa đào tạo ở Davos
Thầy và trò
Gửi các em học sinh Nhật Bản
Giáo dục và nhà giáo
Giáo dục tư duy độc lập
Những biện pháp của tòa án dị giáo tân thời
Về tự do học thuật
Chủ nghĩa Phát xít và khoa học
Sự cần thiết của văn hóa đạo đức
Thiên đường đánh mất
Đạo nghiên cứu
Tôn giáo và khoa học
Tốt và xấu
Nhà nước và lương tâm cá nhân
Về ý nghĩa cuộc sống
Phụ nữ và chiến tranh
Lới giới thiệu - Thế giới như tôi thấy
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là tập hợp những bài
viết, bài nói chuyện, thư từ và tiểu luận khoa học của một trong những
con người vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi: Albert Einstein.
Ông là một trong những thiên tài hiếm hoi, người không chỉ vô cùng
xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn có ảnh hưởng sâu rộng
tới các lĩnh vực khác: tư tưởng, tôn giáo và chính trị.
Cuốn sách này được Einstein công bố lần đầu năm 1931 ở Đức. Năm
1955, sách được tái bản ở Mỹ, có bổ sung thêm nhiều bài viết mới. Từ đó
đến nay, nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành một trong những
cuốn sách "kinh điển" để người đọc qua đó có thể tìm hiểu về con người và
cội nguồn tư tưởng của nhà khoa học.
Ấn bản mà chúng tôi chọn dịch là thuộc tủ sách Ullstein Taschenbuch
của nhà Carl Seelig (Đức), 2005. Cuốn sách gồm có năm phần. Bốn phần
đầu gồm các bài được sắp xếp theo bố cục gần giống với ấn bản năm 1955 ở
Mỹ, song thứ tự các bài có đôi chỗ thay đổi và cũng có một số bài được bổ
sung mới. Riêng phần năm, "Các tiểu luận khoa học", là phần được bổ sung
mới hoàn toàn. Trong lần ra mắt bản tiếng Việt lần này, tiếc rằng chúng tôi
chưa kịp hoàn tất phần năm mà chỉ có thế giới thiệu bốn phần đầu mà thôi.
Chúng tôi sẽ bổ sung phần thiếu này vào lần xuất bản sau.
Tất cả những bài viết trong sách này đều là nguyên bản của Einstein:
tiểu luận, thư từ, phát biểu, bài trả lời phỏng vấn... ở nhiều dịp khác nhau,
trong đó có những bài được viết rất công phu, dày dặn, nhưng cũng có những
phát biểu rất ngắn hoặc đôi khi chỉ là những lời bông đùa ngẫu hứng. Nhưng
dù là ngắn hay dài, công phu hay ngẫu hứng, tất cả các bài đó đều thống nhất
với nhau ở một văn phong không thể nhầm lẫn, văn phong của một cây bút
bậc thầy: sâu sắc nhưng luôn sáng sủa và kiệm lời, quyết liệt nhưng không
bao giờ đánh mất vẻ duyên dáng và hài hước.
Vì các bài được tác giả thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau
nên rất khó sắp xếp chúng vào chung một chủ đề. Cách lựa chọn của nhà
Carl Seelig trong ấn bản mà chúng tôi chọn dịch cũng chỉ là tương đối. Tuy
vậy, khi đã đọc tất cả các bài ở các phần khác nhau, chúng tôi tin rằng độc
giả hoàn toàn có khả năng nhận ra được các quan điểm chính yếu của
Einstein trong các lĩnh vực mà ông quan tâm, từ khoa học, tôn giáo cho tới
giáo dục và chính trị. Và, dù các quan điểm đó đã được xác nhận là đúng đắn
hay vẫn còn gây nghi vấn, dù chúng vẫn còn giữ nguyên tính thời sự hay đã
trở nên lỗi thời, chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng, chúng đã được viết ra bởi
một con người đã dành cả đời mình để cống hiến cho chân lý trong khoa
học, cho cái thiện và cái đẹp trong cuộc sống.
Để tỏ lòng trân trọng với một nhân vật lịch sử lỗi lạc như Albert
Einstein, chúng tôi đã chuyển tải nguyên văn các quan điểm riêng của ông.
Về một số vấn đề cụ thể như: các thể chế dân chủ, nghĩa vụ quân sự, tòa án
trọng tài quốc tế... mong độc giả hãy đọc với tinh thần phê phán khách quan
và khoa học.
Ở Việt Nam đã có nhiều cuốn sách viết về Einstein, nhưng một cuốn
sách do chính tay nhà khoa học viết ra thì vẫn còn thiếu. Nhân kỷ niệm 100
năm Thuyết tương đối và 50 năm ngày mất của Albert Einstein, chúng tôi
xin giới thiệu bản dịch này như một sự bù đắp vào chỗ thiếu hụt ấy.
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Thế giới như tôi thấy
Tiểu luận này được Einstein viết tại Berlin năm 1930 khi ông 51
tuổi. Năm 1931, nó được dịch ra tiếng Anh và in trong tập thứ 13 của bộ
sách "Living Philosophies", Nhà xuất bản New York, Mỹ.
Tình cảnh của những đứa con trái đất chúng ta mới kỳ lạ làm sao! Mỗi
chúng ta đến đây như một chuyến viếng thăm ngắn ngủi. Ta không biết để
làm gì, nhưng đôi khi ta tin rằng ta cảm nhận được điều đó. Song, nhìn từ
cuộc sống thường nhật mà không đi sâu hơn, ta biết rằng: ta đến đây vì
người khác - trước hết vì những người mà hạnh phúc của riêng ta phụ thuộc
hoàn toàn vào nụ cười và sự yên ấm của họ, kế đến là vì bao người không
quen mà số phận của họ nối với ta bằng sợi dây của lòng cảm thông.
Mỗi ngày tôi nghĩ không biết bao nhiêu lần, rằng cuộc sống bên ngoài
và cuộc sống nội tâm của tôi là dựa trên lao động của những người hiện tại
và cả những người đã chết, rằng tôi phải nỗ lực để trao lại tương xứng với
những gì tôi đã nhận được và còn nhận được. Tôi có nhu cầu sống giản tiện
và thường cảm thấy dằn vặt, rằng mình đòi hỏi nhiều hơn mức cần thiết từ
lao động của đồng loại. Tôi thấy sự khác biệt về giai cấp xã hội là không thể
biện minh được và rốt cuộc là do dựa trên bạo lực. Tôi cũng tin rằng, một
đời sống bên ngoài giản dị và không cầu kỳ là tốt cho mọi người, tốt cho cả
thể xác lẫn tâm hồn.
Tôi tuyệt không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mỗi
người không chỉ hành động vì sự thúc ép ngoại cảnh mà còn theo đòi hỏi nội
tâm. Câu nói của Schopenhauer : "Con người tuy có thể làm những gì mình
muốn nhưng không thể cứ muốn [chạy theo] những gì mình muốn." đã hằng
sống theo tôi từ thời trẻ và luôn là nguồn an ủi với tôi trong những lúc đối
mặt và chịu đựng sự khắc nghiệt của cuộc đời và là nguồn suối vô tận của
lòng khoan dung. Cảm nhận đó đã làm vơi đi biết bao gánh nặng trách nhiệm
vốn dễ khiến ta suy sụp; nó giúp ta không quá khắt khe với chính mình và
người khác; nó dẫn đến một cách nhìn cuộc sống mà ở đó, nhất là sự hài
hước cũng có chỗ đứng của nó.
Từ góc nhìn khách quan, câu hỏi về ý nghĩa hoặc mục đích tồn tại của
mình cũng như của các sinh thể nói chung luôn có vẻ vô nghĩa đối với tôi.
Nhưng mặt khác, mỗi người đều có những lý tưởng nhất định làm kim chỉ
nam cho nỗ lực và sự phán xét của mình. Theo nghĩa này, sự thỏa mãn và
yên ấm chưa bao giờ là mục đích tự thân của tôi (tôi gọi nền tảng luân lý này
là lý tưởng của bầy lợn). Lý tưởng của tôi, lý tưởng soi đường và luôn làm
dâng đầy trong tôi niềm cảm khái yêu đời, là Thiện, Mỹ và Chân. Không có
cảm nhận về sự đồng điệu với những người cùng chí hướng, không có sự
đau đáu với cái khách quan, với cái mãi mãi không vươn tới được trong lĩnh
vực nghệ thuật và nghiên cứu khoa học, thì cuộc sống với tôi thật trống rỗng.
Những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, thành đạt
bề ngoài, sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh.
Ý thức nhiệt thành của tôi về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội
luôn đối nghịch một cách cố hữu với việc tôi không có nhu cầu trực tiếp gắn
kết với những cá nhân và tập thể. Tôi đích thực là một kẻ "thu mình", kẻ
chưa bao giờ hoàn toàn thuộc về nhà nước, quê hương, bạn bè, vâng, ngay cả
gia đình thân thiết của mình cũng vậy; đối với tất cả những mối quan hệ ấy,
tôi luôn có cảm giác xa lạ khôn dứt và nhu cầu được cô đơn; cảm giác đó
càng tăng theo tuổi tác. Người ta cảm nhận được, một cách rõ nét nhưng
không ân hận, về ranh giới của sự đồng cảm và hòa hợp với người khác. Có
thể một người như thế sẽ đánh mất phần nào sự hồn nhiên và vô tư, nhưng
bù vào đó, anh ta lại luôn độc lập trước những quan điểm, thói quen và sự
phán xét của người khác, và không để mình dễ bị chao đảo trên cái nền tảng
không lấy gì làm vững chắc đó.
Lý tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Mỗi người cần được tôn
trọng như một nhân cách và không ai được thần thánh hóa. Thật trớ trêu cho
số phận, chính tôi lại nhận được quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ
người khác - mà tôi chẳng làm gì xứng đáng hay làm gì nên tội. Điều này có
lẽ có nguyên cớ từ mong muốn không được thỏa mãn của nhiều người trong
việc muốn hiểu vài ba ý tưởng của tôi, những ý tưởng mà tôi đã tìm được
bằng chút sức lực yếu ớt trong cuộc vật lộn không ngừng nghỉ. Thực ra tôi
cũng biết rằng, để đạt được một mục đích tập thể, nhất thiết phải có ai đó
đứng ra nghĩ, sắp xếp và chịu trách nhiệm chung. Nhưng không được ép
buộc những người đi theo, mà phải để họ có quyền chọn cho mình người
cầm lái. Một hệ thống độc đoán dựa trên sự cưỡng bức sẽ sớm bị thoái hóa
trong một thời gian ngắn, tôi tin chắc như vậy. Bởi bạo lực luôn hấp dẫn
những kẻ thấp kém về đạo đức, và tôi tin rằng đã thành quy luật: nối nghiệp
những tên bạo chúa thiên tài luôn là những tên khốn kiếp. Vì lý do đó, tôi
luôn là người quyết liệt chống lại những hệ thống như vậy, những hệ thống
mà chúng ta đang thấy ở Ý và Nga hiện nay. Cái làm cho nền dân chủ ở châu
Âu hôm nay rơi vào bê bối không phải là bản thân lý tưởng dân chủ, mà là
sự thiếu ổn định của một bộ phận lãnh đạo các chính phủ và tính phi nhân
cách của thể thức bầu cử. Về mặt này, tôi cho rằng nước Mỹ đã có lựa chọn
đúng: họ có một Tổng thống có trách nhiệm, được bầu cho một thời gian đủ
dài và có đủ quyền lực để thực sự đảm nhận được trọng trách. Mặt khác, tôi
lại đánh giá cao hoạt động nhà nước của chúng ta về mặt phúc lợi rộng rãi
cho cá nhân trong trường hợp đau ốm hay khó khăn. Cái mà tôi cho là có giá
trị đích thực trong các hoạt động của con người không phải là nhà nước, mà
là cá thể sáng tạo và cá thể cảm nhận, là cá nhân: Chỉ cá nhân mới [vượt lên]
tạo dựng được những giá trị chân quý và cao cả, trong khi bầy đàn, xét như
bầy đàn, cứ mãi vẫn là trì độn trong tư duy và trì độn trong cảm xúc.
Nhân đây tôi muốn đề cập đến cái quái thai kinh tởm nhất của bản tính
bầy đàn: hệ thống quân đội mà tôi căm ghét. Chỉ cần kẻ nào cảm thấy thích
thú khi đứng vào đoàn duyệt binh trong tiếng quân nhạc, tôi đã coi thường
rồi; anh ta được trời phú nhầm cho bộ não lớn, bởi với anh ta, chỉ cần cột
xương sống thôi là đã quá đủ. Vết nhục này của nền văn minh cần bị loại trừ
càng sớm càng tốt. Chủ nghĩa anh hùng phục tùng mệnh lệnh, bạo lực mù
quáng, trò hề ái quốc tởm lợm, tôi căm ghét chúng làm sao. Với tôi, chiến
tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao. Tôi thà bị băm vằm làm muôn
mảnh còn hơn là dự phần vào cái trò khốn nạn đó! Dù sao tôi vẫn luôn nghĩ
tốt về nhân loại, và tôi tin rằng, lẽ ra bóng ma này đã có thể biến đi từ lâu
nếu lý trí lành mạnh của dân chúng không bị những tham vọng về kinh tế và
chính trị, thông qua trường học và báo chí, làm cho bại hoại.
Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là
cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ
nào không biết đến nó, không còn khả năng thảng thốt hay kinh ngạc, kẻ đó
có thể coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình. Trải nghiệm cái bí
ẩn - dù có pha trộn cảm giác sợ hãi - cũng chính là trải nghiệm mà tôn giáo
đã tạo ra. Hiểu biết về sự hiện hữu của cái mà ta không thể nhìn thấu, của
những biểu hiện của lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ nhất, [tức về]
những cái chỉ có thể đến với trí não của ta trong những hình thức sơ khai
nhất; chính cái biết và cái cảm này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; theo
nghĩa đó và chỉ theo nghĩa đó, tôi thuộc về những người có tín ngưỡng sâu
xa. Còn một Thượng đế theo nghĩa là kẻ ban phát phần thưởng và trừng phạt
những tạo vật do chính mình tạo ra, kẻ gần như có một ý chí như người trần
thế chúng ta, thì tôi không thể nào hình dung ra được. Tôi không muốn và
cũng không thể tưởng tượng ra những cá nhân sống lâu hơn cái chết thể xác;
mặc cho những tâm hồn yếu đuối, vì sợ hãi hay ích kỷ đáng cười, tìm đến
những suy nghĩ như vậy. Với tôi, sự huyền nhiệm về tính vĩnh cửu của sự
sống cùng với sự thức nhận và tiên cảm về cấu tạo kỳ diệu của tạo vật cũng
như nỗ lực nhẫn nại để nắm bắt lấy một phần dù rất nhỏ bé của cái lý tính tỏa
rạng trong cõi tạo hóa này, đã là quá đủ.
ALBERT EINSTEIN
Tiểu sử EINSTEIN
Ghi chú: số trong ngoặc là tuổi của Einstein
1879 (0) Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 ở Ulm, một
thành phố trung bình ở miền Tây Nam nước Đức. Cha là Hermann
Einstein (1847-1902), mẹ là Pauline Einstein (1858-1920), cả hai đều gốc
Do Thái.
1880 (1) Gia đình Einstein chuyển tới sống ở München.
1884 (4) Bố Einstein giải thích cho cậu bé Albert cách hoạt động của la
bàn.
1885 (6) Einstein học chơi violon.
1888 (9) Nhập học ở Trường tiểu học Luitpold, München.
1889 (10) Gặp Max Talmud, người tặng Einstein cuốn sách hình học
đầu tiên và thường xuyên dành thời gian trao đổi với Einstein tới năm 1894.
1890 (11) Einstein trải qua "một năm tôn giáo", bởi cậu sinh hoạt theo
các điều luật nghiêm ngặt của đạo Do Thái.
1891 (12) Einstein đọc một cuốn sách về hình học Euclid. Sau này,
Einstein nói: "Sự sáng sủa và chắn chắn đó đã mang lại cho tôi một ấn tượng
khó tả."
1894 (15) Gia đình di chuyển tới Milan, Italia. Riêng Einstein ở lại
München để kết thúc việc học.
1896 (17) Vào học Đại học Bách khoa Zürich, Thụy Sĩ. Einstein làm
quen với Mileva Mariç (1875-1948), người trở thành vợ ông sau này. Ông
bỏ quốc tịch Đức và năm năm liền, ông là người không có quốc tịch.
1900 (21) Einstein gửi bài viết khoa học đầu tiên tới tạp chí "Annalen
der Physik" (Niên giám vật lý).
1902 (23) Bố qua đời ở Milan; Einstein trở thành nhân viên Cục cấp
bằng sáng chế tại Bern. Con gái Liesert chào đời trước hôn nhân.
1903 (24) Kết hôn với Mileva Mariç.
1904 (25) Con trai Hans Albert chào đời.
1905 (26) Năm thần kỳ của Einstein: xuất bản 5 tiểu luận khoa học,
một trong đó có công thức E = mc2.
1907 (28) Einstein cộng tác với các nhà vật lý lớn nhất của thời đại,
trong đó có Max Planck (1858-1947) và Hermann Minkowski (1864-1909).
1908 (29) Bảo vệ luận án sau tiến sĩ (tiến sĩ habil) tại Đại học Bern;
Giảng bài đầu tiên tại học kỳ mùa đông về "lý thuyết bức xạ". Chỉ có 3 sinh
viên đến nghe.
1910 (31) Con trai thứ Eduard chào đời.
1913 (34)
Einstein viết "Phác thảo về một lý thuyết tương đối tổng quát và
một lý thuyết về hấp dẫn".
1914 (35) Chuyển tới sống ở Berlin; ly dị với Mileva Mariç.
1916 (37) Einstein hoàn tất Thuyết tương đối rộng.
1917 (38) Xuất bản cuốn sách "Về Thuyết tương đối hẹp và Thuyết
tương đối rộng". Sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, cuốn sách được dịch ra
nhiều thứ tiếng.
1919 (40) Einstein nổi tiếng thế giới: Đoàn thiên văn của Hoàng gia
London tới Brazil quan sát nhật thực đã chứng minh tính đúng đắn của
Thuyết tương đối.
1922 (43) Einstein nhận giải Nobel Vật lý (Giải được trao năm 1921).
1924 (45) Phát minh khoa học lớn cuối cùng: trạng thái đông đặc
Bose-Einstein.
1930 (51) Giảng viên được mời tại Đại học Princeton cho học kỳ mùa
đông.
1931 (52) Tuyển tập "Mein Weltbild" (Thế giới như tôi thấy) xuất bản.
1933 (54) Nghỉ ở bãi biển La Coq, miền Ostende, Bỉ. Đây là lần cuối
cùng Einstein đặt chân ở châu Âu. Ông quyết định di cư sang Mỹ. Ông trở
thành Giáo sư tại Viện nghiên cứu phát triển Princeton.
1934 (55) Einstein biểu diễn một buổi hòa nhạc violon tại New York
để ủng hộ các nhà khoa học chạy trốn Đức Quốc xã.
1936 (57) Vợ thứ hai Elsa qua đời.
1939 (60) Einstein viết hai bức thư gửi Tổng thống Franklin D.
Roosevelt.
1944 (65) Bản viết tay bài viết "Điện động lực học của các vật chuyển
động" (1905) được bán đấu giá tại Kansas City với giá 6 triệu đôla.
1946 (67) Nhận chức Chủ tịch Hội đồng chống chiến tranh nguyên tử.
1948 (69) Vợ thứ nhất Maleva Mariç qua đời.
1950 (71) Einstein viết di chúc.
1951 (72) Em gái Maja Winteler qua đời ở Princeton.
1952 (73) Einstein được mời làm Tổng thống Israel. Ông từ chối.
1953 (74) Einstein tổ chức sinh nhật rộng rãi để quyên góp thành lập
Đại học Y khoa Einstein ở New York.
1954 (75) Einstein ốm nặng. Suy gan, thiếu máu và suy nhược toàn cơ
thể.
1955 (76) Einstein qua đời ngày 18 tháng 4. Câu cuối cùng ông viết là
"Nhiệt tình chính trị đòi hỏi phải hi sinh."
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Các thế hệ trước đây đã có thể tin rằng, những tiến bộ về tinh
thần và văn minh, đối với họ, không phải là một cái gì khác hơn là
những thành quả được thừa hưởng từ lao động mà tổ tiên đã tạo ra,
những thành quả đảm bảo cho họ một cuộc sống dễ chịu hơn và tốt đẹp
hơn.
Những tai họa lớn của thời đại chúng ta đã chỉ ra rằng, điều này đã chỉ
là một ảo tưởng nguy hiểm.
Chúng ta thấy rằng, phải thực hiện những nỗ lực lớn nhất để di sản này
của nhân loại không mang đến điều bất hạnh, mà mang đến điều hạnh phúc.
Nếu trước đây, con người đã từng được coi là có giá trị xã hội khi được giải
phóng ở mức độ nào đó khỏi thói ích kỷ cá nhân, thì hiện nay, con người
được đòi hỏi phải vượt qua được thói ích kỷ giai cấp và dân tộc của mình.
Bởi vì chỉ khi vượt lên cao như vậy, con người mới có thể đóng góp vào việc
thay đổi số phận của cộng đồng nhân loại theo hướng tốt hơn.
Trước đòi hỏi quan trọng này của thời đại, những người dân thuộc các
quốc gia nhỏ lại ở hoàn cảnh tương đối thuận lợi hơn so với những người
dân thuộc các quốc gia lớn, bởi vì cả về chính trị và kinh tế, những người
dân này tránh được những cám dỗ của sự bành trướng quyền lực một cách
tàn bạo. Hiệp định giữa Hà Lan và Bỉ, một hiệp định đã tạo ra điểm sáng duy
nhất trong sự phát triển của châu Âu trong thời đại hiện nay, đã cho phép hy
vọng rằng, các quốc gia nhỏ có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo trong nỗ lực
đạt được sự giải phóng khỏi ách thống trị nhục nhã của chủ nghĩa quân phiệt,
nhờ việc khước từ đối với quyền tự quyết tự do, không hạn chế.
ALBERT EINSTEIN
Hướng đến an ninh của nhân loại
Sự khám phá ra các phản ứng dây chuyền của nguyên tử không
đòi hỏi con người thực hiện việc tàn phá nhiều hơn là việc phát minh ra
que diêm. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để loại trừ sự lạm
dụng. Ở trình độ hiện nay của phương tiện kỹ thuật, chỉ có một tổ chức
siêu quốc gia gắn liền với một quyền lực hành pháp đủ mạnh mới có thể
bảo vệ được chúng ta.
Nếu chúng ta đã thừa nhận điều này, thì chúng ta sẽ tìm thấy lực lượng
mang đến sự hy sinh cần thiết cho an ninh của nhân loại. Mỗi người chúng ta
cũng sẽ có lỗi, nếu mục tiêu này không được thực hiện kịp thời. Điều đáng
sợ là ở chỗ, mỗi người không làm gì cả mà chỉ chờ đợi người khác làm cho
mình.
Sự tôn trọng đối với những tiến bộ khoa học đã đạt được trong thế kỷ
này, đều được thể hiện ở mỗi người, từ người có đôi chút trình độ cho đến
người quan sát nông nổi, chỉ nhìn thấy những áp dụng về mặt kỹ thuật.
Nhưng người ta sẽ không đánh giá quá mức những thành tựu của thời đại
vừa qua, khi người ta nhớ đến những vấn đề của khoa học ở quy mô lớn.
Điều này cũng giống như trong chuyến đi bằng xe lửa: Nếu người ta chỉ chú
ý đến vùng lân cận tiếp theo, thì người ta dường như sẽ đạt được trong nháy
mắt. Còn nếu người ta chú ý đến những hình thù lớn như những dãy núi cao,
thì tình hình sẽ chỉ thay đổi dần dần. Điều này cũng tương tự, nếu người ta
gặp phải những vấn đề lớn của khoa học.
Theo ý kiến của tôi, thật không có lý, khi nói một cách chung chung về
“lối sống của chúng ta” hay lối sống của người Nga. Trong cả hai trường
hợp, người ta nói đến sự tập hợp của các truyền thống và thói quen. Tập hợp
này không tạo ra một chỉnh thể hữu cơ. Tốt hơn hết là tự hỏi mình xem,
những cơ cấu nào, những truyền thống nào là có hại hoặc có lợi cho con
người, những cơ cấu nào, những truyền thống nào làm cho cuộc sống hạnh
phúc hơn hoặc đau khổ hơn. Khi đó, người ta phải cố gắng thực thi cái đã
được nhận thấy là tốt hơn, không phụ thuộc vào câu hỏi, liệu hiện nay, nó có
thực hiện được hay không ở chúng ta hoặc ở một nơi nào đó khác.
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Bài viết cho chương trình truyền hình của Bà phu nhân tổng thống
Roosevelt
Thưa Bà Roosevelt! Tôi xin cảm ơn Bà, vì Bà đã cho tôi cơ hội
trình bày quan điểm của tôi về vấn đề chính trị quan trọng nhất này:
Trong tình trạng hiện nay của kỹ thuật quân sự, sự tin tưởng rằng,
người ta có thể có được an ninh nhờ vũ trang cho đất nước mình, hoàn toàn
chỉ là ảo tưởng. Về phía nước Mỹ, ảo tưởng này còn được khuyến khích đặc
biệt bởi một ảo tưởng thứ hai là trước tiên thành công trong việc chế tạo bom
nguyên tử ở nước này. Người ta có xu hướng tin rằng, về lâu dài có thể đạt
được ưu thế tuyệt đối về quân sự. Theo cách này, người ta tin là có thể làm
cho bất cứ kẻ thù tiềm năng nào phải khiếp sợ, qua đó mang lại cho chính
chúng ta và toàn thể nhân loại an ninh mà tất cả mọi người mong muốn tha
thiết. Câu châm ngôn được chúng ta tin cậy trong suốt năm năm qua là: An
ninh bằng sức mạnh vượt trội, dù phải trả bằng bất cứ giá nào.
Hậu quả của thái độ máy móc, kỹ thuật-quân sự và tâm lý này là không
thể tránh được. Mọi hành động đối ngoại đều bị khống chế bởi quan điểm
duy nhất: Chúng ta phải hành động như thế nào để trong trường hợp chiến
tranh, có được ưu thế hơn hẳn so với kẻ thù? Đó là việc thiết lập các căn cứ
quân sự tại tất cả các vị trí quan trọng về chiến lược trên trái đất, vũ trang và
gia tăng sức mạnh về kinh tế cho các nước đồng minh tiềm tàng; ở trong
nước, tập trung quyền lực tài chính khổng lồ vào trong tay quân đội, quân
phiệt hóa giới trẻ, giám sát lòng trung thành của các công dân và đặc biệt của
các quan chức thông qua hệ thống cảnh sát ngày càng trở nên hùng mạnh, đe
dọa những người có tư duy chính trị độc lập, gây ảnh hưởng đến tâm trạng
của dân chúng thông qua đài phát thanh, báo chí và trường học, cấm các khu
vực thông tin đang phát triển viện cớ liên quan đến bí mật quân sự.
Những hậu quả tiếp theo: Cuộc chạy đua vũ trang vốn được xem là sự
phòng ngừa giữa Liên Xô và Mỹ nay mang tính chất điên rồ. Ở cả hai phía,
phương tiện giết người hàng loạt được sản xuất trong tình trạng dồn dập sôi
động đằng sau những bức tường bí mật.
Trong triển vọng, bom H được xem như một mục tiêu có thể đạt được.
Tổng thống long trọng công bố về sự phát triển nhanh chóng của nó. Nếu
thành công, thì về mặt kỹ thuật, bom H có thể gây ra hiện tượng nhiễm
phóng xạ cho bầu khí quyển và sự huỷ hoại toàn bộ sự sống trên trái đất.
Điều khủng khiếp của diễn biến này chính là ở tính có vẻ tất yếu của nó. Mỗi
bước tiến dường như là hậu quả không thể tránh được của người đi bước
trước. Có thể thấy ngày càng rõ rằng, rút cuộc sẽ là sự hủy diệt tất cả.
Liệu có thể có giải pháp gì nói chung để cứu vãn tình hình do chính
con người tự tạo ra này được hay không? Tất cả chúng ta và đặc biệt là
những người có trách nhiệm về hành động của Mỹ và Liên Xô, cần phải học
cách thừa nhận rằng, tuy họ đã kìm chế được kẻ thù bên ngoài, nhưng lại
không có khả năng tự giải phóng mình khỏi tâm trạng do chiến tranh tạo ra.
Không thể đạt được hòa bình thực sự, nếu người ta định hướng phương thức
hành động của mình dựa vào khả năng có thể xảy ra một cuộc xung đột trong
tương lai, đặc biệt khi người ta ngày càng biết rõ rằng, một cuộc xung đột
chiến tranh như thế có nghĩa là sự hủy diệt tất cả. Vì vậy, tư tưởng chỉ đạo
của tất cả các hành động chính trị phải là: Chúng ta có thể làm được gì để tạo
ra được một sự chung sống hòa bình, thỏa đáng trong khuôn khổ có thể giữa
các quốc gia? Vấn đề đầu tiên là loại bỏ nỗi sợ hãi và thiếu tin tưởng lẫn
nhau. Sự khước từ một cách long trọng đối với việc sử dụng bạo lực chống
lại nhau (không chỉ là sự khước từ đối với việc sử dụng các phương tiện giết
người hàng loạt) dĩ nhiên là cần thiết. Sự khước từ đó chỉ trở nên có hiệu
quả, nếu nó gắn liền với việc áp dụng một cấp thẩm quyền hành pháp và tư
pháp siêu quốc gia. Quyền quyết định về các vấn đề liên quan trực tiếp đến
an ninh của các quốc gia, được chuyển giao cho cấp thẩm quyền này. Ngay
một lời tuyên bố của các quốc gia về sự cộng tác trung thành để thực hiện
một “Chính phủ thế giới hạn chế” như vậy, cũng sẽ làm giảm một cách đáng
kể nguy cơ chiến tranh.
Rút cuộc, mọi sự chung sống hòa bình của con người, thứ nhất, dựa
vào sự tin cậy lẫn nhau, thứ hai, dựa vào các thiết chế như tòa án và cảnh sát.
Điều này có giá trị cả cho các quốc gia lẫn cho các cá nhân riêng lẻ. Nhưng,
sự tin cậy chỉ dựa vào một mối quan hệ trung thực của “give and take” tức là
của “cho và nhận”.
Nhưng sự tin cậy ấy có quan hệ ra sao với sự kiểm soát quốc tế? Giờ
đây [so với lòng tin cậy lẫn nhau] sự kiểm soát quốc tế chỉ có thể có vai trò
hữu ích thứ yếu với tư cách là một biện pháp cảnh sát. Người ta có thể thực
hiện tốt vai trò này ở đây, mà vẫn không đề cao quá mức tầm quan trọng của
nó. So với giải pháp “cấm rượu” [ở Mỹ], thì đây là việc đáng suy ngẫm.
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Tình hình chính trị hiện nay của thế giới và đặc biệt là của châu
Âu, theo tôi, dường như có đặc điểm là sự phát triển về chính trị lại bị
tụt hậu cả về vật chất lẫn tinh thần so với quá trình phát triển kinh tế
vốn đã biến đổi trong thời gian tương đối ngắn ngủi; Các lợi ích của các
quốc gia riêng rẽ phải đặt dưới những lợi ích của các cộng đồng lớn hơn.
Cuộc đấu tranh cho quan điểm mới này của tư duy và cảm nhận chính
trị là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, bởi vì nó trái ngược với truyền thống
từ hàng trăm năm nay. Nhưng khả năng tồn tại của châu Âu lại phụ thuộc
vào lối thoát may mắn ấy. Tôi tin tưởng vững chắc rằng, sau khi vượt qua
các trở ngại về mặt tâm lý, việc giải quyết các vấn đề hiện thực sẽ không còn
quá khó khăn nữa. Để tạo ra bầu không khí tích cực, trước hết cần phải có sự
liên kết về con người giữa những người có cùng mục tiêu chung. Mong sao
những nỗ lực hợp nhất này sẽ thành công để bắt được một nhịp cầu tin cậy
giữa các dân tộc!
Sản xuất và lao động
Trả lời một bức thư gửi đến
Tôi nhìn thấy sự bất cập chủ yếu ở trong tự do gần như vô hạn
của thị trường lao động gắn liền với những tiến bộ phi thường của các
phương pháp sản xuất. Để sản xuất những gì cần thiết cho các nhu cầu
hiện nay, người ta không cần đến tất cả lực lượng lao động hiện có. Từ
đây xuất hiện nạn thất nghiệp và cuộc cạnh tranh không lành mạnh
giữa những người lao động. Ngoài ra, từ cả hai nguyên nhân trên, xuất
hiện sự suy giảm sức mua và đồng thời là sự bóp nghẹt quá mức của
toàn bộ chu trình kinh tế.
Tôi cũng được biết rằng, theo các nhà kinh tế tự do, việc gia tăng các
nhu cầu sẽ cân đối lại mọi sự tiết kiệm về sức lao động. Tuy nhiên, tôi không
tin điều này, và kể cả khi nó là có thật, thì các yếu tố kể trên luôn dẫn tới kết
quả là mức sống của phần lớn dân chúng bị giảm sút một cách hoàn toàn giả
tạo.
Cùng với quý vị, tôi cũng tin rằng, nhất thiết phải quan tâm để làm sao
cho những người trẻ hơn có thể và cần phải tham gia vào quá trình sản xuất.
Tôi cũng cho rằng, người ta nên đưa những người nhiều tuổi hơn khỏi những
công việc nhất định mà tôi coi là không đòi hỏi trình độ. Bù lại, họ sẽ nhận
được một khoản lương hưu, vì trước đây, trong một thời gian dài, họ đã thực
hiện công việc một cách có hiệu quả, được xã hội thừa nhận.
Tôi cũng ủng hộ chủ trương dẹp bỏ các thành phố lớn. Tôi không ủng
hộ việc định cư những người thuộc nhóm đặc biệt, chẳng hạn những người
già vào trong các thành phố đặc biệt. Tôi phải nói rằng, đối với tôi, tư tưởng
này là đáng ghê tởm.
Tôi cũng cho rằng, cần phải tránh sự chao đảo về giá trị đồng tiền, cụ
thể bằng cách thay thế tiền vàng bằng đơn vị tiền tệ tương ứng với một
lượng hàng hóa đa dạng, được ấn định theo tương quan sử dụng. Đó là một
lượng hàng hóa như đã được Keynes đề nghị từ lâu, nếu tôi không nhầm.
Khi vận dụng biện pháp này, người ta có thể chấp nhận một sự “lạm phát”
nào đó đối với giá trị đồng tiền hiện nay, một khi người ta tin rằng, nhà nước
thực sự sẽ biết sử dụng hợp lý món quà tặng được dành cho mình.
Theo quan niệm của tôi, các điểm yếu trong bản kế hoạch của ông
chính là ở yếu tố tâm lý hoặc ở sự coi thường yếu tố này. Chủ nghĩa tư bản
mang đến những tiến bộ không chỉ cho sản xuất, mà còn cho nhận thức. Đó
không phải ngẫu nhiên. Thói ích kỷ và ganh đua (thật đáng tiếc) là những thế
lực mạnh mẽ hơn là tinh thần cộng đồng hay ý thức trách nhiệm. Ở nước
Nga, người ta thậm chí không có được một chiếc bánh mỳ đàng hoàng… Có
lẽ tôi quá bi quan về những gì liên quan đến các doanh nghiệp của nhà nước
và của các “tập thể” khác, nhưng tôi vẫn không trông đợi một cái gì tốt đẹp
từ đó cả. Nạn quan liêu là Tử thần của mọi ...
Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao
Tác giả:
Người dịch:
Đăng
214
200g
Quí I/2006
12x20cm
Tri thức
33.000 VNĐ
ngvietduc (TVE)
www.Sachvui.com
Mục lục
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Số trang:
Trọng lượng:
Ngày xuất bản:
Khổ:
Nhà xuất bản :
Giá bìa:
Tổng hợp
Ebook Tại
Tiểu sử EINSTEIN
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Hướng đến an ninh của nhân loại
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Sản xuất và lao động
Sản xuất và sức mua
Vài suy nghĩ về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Các triệu chứng bệnh hoạn của đời sống văn hóa
Văn hóa và phồn thịnh
Việc hợp tác trí tuệ
Đức và Pháp
Bàn về các nhóm thiểu số
Quốc tế khoa học
Bàn về tòa án trọng tài
Nước Mỹ và hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về hội nghị giải trừ quân bị năm 1932
Bàn về vấn đề giải trừ quân bị
Một lời chia tay
Chủ nghĩa hòa bình tích cực
Thư gửi Sigmund Freud
Bàn về nghĩa vụ quân sự
Diễn văn tại hội nghị sinh viên về giải trừ quân bị
Vấn đề của chủ nghĩa hòa bình
Hướng đến việc loại bỏ nguy cơ chiến tranh
Phần II: Chính trị và chủ nghĩa hòa bình
Hòa bình
Trả lời phụ nữ Mỹ
Lời chúc mừng gửi nhà phê bình
Đám nhà báo
Bertrand Russell và tư duy triết học
Chào mừng nhà văn George Bernard Shaw Bài phát biểu nhân dịp sinh nhật lần thứ 70
của Arnold Berliner
Josef popper-lynkeus
H. A. Lorentz: Nhà bác học - nhân cách lớn
Hoạt động của H.A.Lorentz trong công vụ hợp tác quốc tế
Các khóa đào tạo ở Davos
Thầy và trò
Gửi các em học sinh Nhật Bản
Giáo dục và nhà giáo
Giáo dục tư duy độc lập
Những biện pháp của tòa án dị giáo tân thời
Về tự do học thuật
Chủ nghĩa Phát xít và khoa học
Sự cần thiết của văn hóa đạo đức
Thiên đường đánh mất
Đạo nghiên cứu
Tôn giáo và khoa học
Tốt và xấu
Nhà nước và lương tâm cá nhân
Về ý nghĩa cuộc sống
Phụ nữ và chiến tranh
Lới giới thiệu - Thế giới như tôi thấy
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là tập hợp những bài
viết, bài nói chuyện, thư từ và tiểu luận khoa học của một trong những
con người vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi: Albert Einstein.
Ông là một trong những thiên tài hiếm hoi, người không chỉ vô cùng
xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn có ảnh hưởng sâu rộng
tới các lĩnh vực khác: tư tưởng, tôn giáo và chính trị.
Cuốn sách này được Einstein công bố lần đầu năm 1931 ở Đức. Năm
1955, sách được tái bản ở Mỹ, có bổ sung thêm nhiều bài viết mới. Từ đó
đến nay, nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành một trong những
cuốn sách "kinh điển" để người đọc qua đó có thể tìm hiểu về con người và
cội nguồn tư tưởng của nhà khoa học.
Ấn bản mà chúng tôi chọn dịch là thuộc tủ sách Ullstein Taschenbuch
của nhà Carl Seelig (Đức), 2005. Cuốn sách gồm có năm phần. Bốn phần
đầu gồm các bài được sắp xếp theo bố cục gần giống với ấn bản năm 1955 ở
Mỹ, song thứ tự các bài có đôi chỗ thay đổi và cũng có một số bài được bổ
sung mới. Riêng phần năm, "Các tiểu luận khoa học", là phần được bổ sung
mới hoàn toàn. Trong lần ra mắt bản tiếng Việt lần này, tiếc rằng chúng tôi
chưa kịp hoàn tất phần năm mà chỉ có thế giới thiệu bốn phần đầu mà thôi.
Chúng tôi sẽ bổ sung phần thiếu này vào lần xuất bản sau.
Tất cả những bài viết trong sách này đều là nguyên bản của Einstein:
tiểu luận, thư từ, phát biểu, bài trả lời phỏng vấn... ở nhiều dịp khác nhau,
trong đó có những bài được viết rất công phu, dày dặn, nhưng cũng có những
phát biểu rất ngắn hoặc đôi khi chỉ là những lời bông đùa ngẫu hứng. Nhưng
dù là ngắn hay dài, công phu hay ngẫu hứng, tất cả các bài đó đều thống nhất
với nhau ở một văn phong không thể nhầm lẫn, văn phong của một cây bút
bậc thầy: sâu sắc nhưng luôn sáng sủa và kiệm lời, quyết liệt nhưng không
bao giờ đánh mất vẻ duyên dáng và hài hước.
Vì các bài được tác giả thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau
nên rất khó sắp xếp chúng vào chung một chủ đề. Cách lựa chọn của nhà
Carl Seelig trong ấn bản mà chúng tôi chọn dịch cũng chỉ là tương đối. Tuy
vậy, khi đã đọc tất cả các bài ở các phần khác nhau, chúng tôi tin rằng độc
giả hoàn toàn có khả năng nhận ra được các quan điểm chính yếu của
Einstein trong các lĩnh vực mà ông quan tâm, từ khoa học, tôn giáo cho tới
giáo dục và chính trị. Và, dù các quan điểm đó đã được xác nhận là đúng đắn
hay vẫn còn gây nghi vấn, dù chúng vẫn còn giữ nguyên tính thời sự hay đã
trở nên lỗi thời, chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng, chúng đã được viết ra bởi
một con người đã dành cả đời mình để cống hiến cho chân lý trong khoa
học, cho cái thiện và cái đẹp trong cuộc sống.
Để tỏ lòng trân trọng với một nhân vật lịch sử lỗi lạc như Albert
Einstein, chúng tôi đã chuyển tải nguyên văn các quan điểm riêng của ông.
Về một số vấn đề cụ thể như: các thể chế dân chủ, nghĩa vụ quân sự, tòa án
trọng tài quốc tế... mong độc giả hãy đọc với tinh thần phê phán khách quan
và khoa học.
Ở Việt Nam đã có nhiều cuốn sách viết về Einstein, nhưng một cuốn
sách do chính tay nhà khoa học viết ra thì vẫn còn thiếu. Nhân kỷ niệm 100
năm Thuyết tương đối và 50 năm ngày mất của Albert Einstein, chúng tôi
xin giới thiệu bản dịch này như một sự bù đắp vào chỗ thiếu hụt ấy.
Phần I : Thế giới như tôi thấy
Thế giới như tôi thấy
Tiểu luận này được Einstein viết tại Berlin năm 1930 khi ông 51
tuổi. Năm 1931, nó được dịch ra tiếng Anh và in trong tập thứ 13 của bộ
sách "Living Philosophies", Nhà xuất bản New York, Mỹ.
Tình cảnh của những đứa con trái đất chúng ta mới kỳ lạ làm sao! Mỗi
chúng ta đến đây như một chuyến viếng thăm ngắn ngủi. Ta không biết để
làm gì, nhưng đôi khi ta tin rằng ta cảm nhận được điều đó. Song, nhìn từ
cuộc sống thường nhật mà không đi sâu hơn, ta biết rằng: ta đến đây vì
người khác - trước hết vì những người mà hạnh phúc của riêng ta phụ thuộc
hoàn toàn vào nụ cười và sự yên ấm của họ, kế đến là vì bao người không
quen mà số phận của họ nối với ta bằng sợi dây của lòng cảm thông.
Mỗi ngày tôi nghĩ không biết bao nhiêu lần, rằng cuộc sống bên ngoài
và cuộc sống nội tâm của tôi là dựa trên lao động của những người hiện tại
và cả những người đã chết, rằng tôi phải nỗ lực để trao lại tương xứng với
những gì tôi đã nhận được và còn nhận được. Tôi có nhu cầu sống giản tiện
và thường cảm thấy dằn vặt, rằng mình đòi hỏi nhiều hơn mức cần thiết từ
lao động của đồng loại. Tôi thấy sự khác biệt về giai cấp xã hội là không thể
biện minh được và rốt cuộc là do dựa trên bạo lực. Tôi cũng tin rằng, một
đời sống bên ngoài giản dị và không cầu kỳ là tốt cho mọi người, tốt cho cả
thể xác lẫn tâm hồn.
Tôi tuyệt không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mỗi
người không chỉ hành động vì sự thúc ép ngoại cảnh mà còn theo đòi hỏi nội
tâm. Câu nói của Schopenhauer : "Con người tuy có thể làm những gì mình
muốn nhưng không thể cứ muốn [chạy theo] những gì mình muốn." đã hằng
sống theo tôi từ thời trẻ và luôn là nguồn an ủi với tôi trong những lúc đối
mặt và chịu đựng sự khắc nghiệt của cuộc đời và là nguồn suối vô tận của
lòng khoan dung. Cảm nhận đó đã làm vơi đi biết bao gánh nặng trách nhiệm
vốn dễ khiến ta suy sụp; nó giúp ta không quá khắt khe với chính mình và
người khác; nó dẫn đến một cách nhìn cuộc sống mà ở đó, nhất là sự hài
hước cũng có chỗ đứng của nó.
Từ góc nhìn khách quan, câu hỏi về ý nghĩa hoặc mục đích tồn tại của
mình cũng như của các sinh thể nói chung luôn có vẻ vô nghĩa đối với tôi.
Nhưng mặt khác, mỗi người đều có những lý tưởng nhất định làm kim chỉ
nam cho nỗ lực và sự phán xét của mình. Theo nghĩa này, sự thỏa mãn và
yên ấm chưa bao giờ là mục đích tự thân của tôi (tôi gọi nền tảng luân lý này
là lý tưởng của bầy lợn). Lý tưởng của tôi, lý tưởng soi đường và luôn làm
dâng đầy trong tôi niềm cảm khái yêu đời, là Thiện, Mỹ và Chân. Không có
cảm nhận về sự đồng điệu với những người cùng chí hướng, không có sự
đau đáu với cái khách quan, với cái mãi mãi không vươn tới được trong lĩnh
vực nghệ thuật và nghiên cứu khoa học, thì cuộc sống với tôi thật trống rỗng.
Những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, thành đạt
bề ngoài, sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh.
Ý thức nhiệt thành của tôi về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội
luôn đối nghịch một cách cố hữu với việc tôi không có nhu cầu trực tiếp gắn
kết với những cá nhân và tập thể. Tôi đích thực là một kẻ "thu mình", kẻ
chưa bao giờ hoàn toàn thuộc về nhà nước, quê hương, bạn bè, vâng, ngay cả
gia đình thân thiết của mình cũng vậy; đối với tất cả những mối quan hệ ấy,
tôi luôn có cảm giác xa lạ khôn dứt và nhu cầu được cô đơn; cảm giác đó
càng tăng theo tuổi tác. Người ta cảm nhận được, một cách rõ nét nhưng
không ân hận, về ranh giới của sự đồng cảm và hòa hợp với người khác. Có
thể một người như thế sẽ đánh mất phần nào sự hồn nhiên và vô tư, nhưng
bù vào đó, anh ta lại luôn độc lập trước những quan điểm, thói quen và sự
phán xét của người khác, và không để mình dễ bị chao đảo trên cái nền tảng
không lấy gì làm vững chắc đó.
Lý tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Mỗi người cần được tôn
trọng như một nhân cách và không ai được thần thánh hóa. Thật trớ trêu cho
số phận, chính tôi lại nhận được quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ
người khác - mà tôi chẳng làm gì xứng đáng hay làm gì nên tội. Điều này có
lẽ có nguyên cớ từ mong muốn không được thỏa mãn của nhiều người trong
việc muốn hiểu vài ba ý tưởng của tôi, những ý tưởng mà tôi đã tìm được
bằng chút sức lực yếu ớt trong cuộc vật lộn không ngừng nghỉ. Thực ra tôi
cũng biết rằng, để đạt được một mục đích tập thể, nhất thiết phải có ai đó
đứng ra nghĩ, sắp xếp và chịu trách nhiệm chung. Nhưng không được ép
buộc những người đi theo, mà phải để họ có quyền chọn cho mình người
cầm lái. Một hệ thống độc đoán dựa trên sự cưỡng bức sẽ sớm bị thoái hóa
trong một thời gian ngắn, tôi tin chắc như vậy. Bởi bạo lực luôn hấp dẫn
những kẻ thấp kém về đạo đức, và tôi tin rằng đã thành quy luật: nối nghiệp
những tên bạo chúa thiên tài luôn là những tên khốn kiếp. Vì lý do đó, tôi
luôn là người quyết liệt chống lại những hệ thống như vậy, những hệ thống
mà chúng ta đang thấy ở Ý và Nga hiện nay. Cái làm cho nền dân chủ ở châu
Âu hôm nay rơi vào bê bối không phải là bản thân lý tưởng dân chủ, mà là
sự thiếu ổn định của một bộ phận lãnh đạo các chính phủ và tính phi nhân
cách của thể thức bầu cử. Về mặt này, tôi cho rằng nước Mỹ đã có lựa chọn
đúng: họ có một Tổng thống có trách nhiệm, được bầu cho một thời gian đủ
dài và có đủ quyền lực để thực sự đảm nhận được trọng trách. Mặt khác, tôi
lại đánh giá cao hoạt động nhà nước của chúng ta về mặt phúc lợi rộng rãi
cho cá nhân trong trường hợp đau ốm hay khó khăn. Cái mà tôi cho là có giá
trị đích thực trong các hoạt động của con người không phải là nhà nước, mà
là cá thể sáng tạo và cá thể cảm nhận, là cá nhân: Chỉ cá nhân mới [vượt lên]
tạo dựng được những giá trị chân quý và cao cả, trong khi bầy đàn, xét như
bầy đàn, cứ mãi vẫn là trì độn trong tư duy và trì độn trong cảm xúc.
Nhân đây tôi muốn đề cập đến cái quái thai kinh tởm nhất của bản tính
bầy đàn: hệ thống quân đội mà tôi căm ghét. Chỉ cần kẻ nào cảm thấy thích
thú khi đứng vào đoàn duyệt binh trong tiếng quân nhạc, tôi đã coi thường
rồi; anh ta được trời phú nhầm cho bộ não lớn, bởi với anh ta, chỉ cần cột
xương sống thôi là đã quá đủ. Vết nhục này của nền văn minh cần bị loại trừ
càng sớm càng tốt. Chủ nghĩa anh hùng phục tùng mệnh lệnh, bạo lực mù
quáng, trò hề ái quốc tởm lợm, tôi căm ghét chúng làm sao. Với tôi, chiến
tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao. Tôi thà bị băm vằm làm muôn
mảnh còn hơn là dự phần vào cái trò khốn nạn đó! Dù sao tôi vẫn luôn nghĩ
tốt về nhân loại, và tôi tin rằng, lẽ ra bóng ma này đã có thể biến đi từ lâu
nếu lý trí lành mạnh của dân chúng không bị những tham vọng về kinh tế và
chính trị, thông qua trường học và báo chí, làm cho bại hoại.
Cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là
cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ
nào không biết đến nó, không còn khả năng thảng thốt hay kinh ngạc, kẻ đó
có thể coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình. Trải nghiệm cái bí
ẩn - dù có pha trộn cảm giác sợ hãi - cũng chính là trải nghiệm mà tôn giáo
đã tạo ra. Hiểu biết về sự hiện hữu của cái mà ta không thể nhìn thấu, của
những biểu hiện của lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ nhất, [tức về]
những cái chỉ có thể đến với trí não của ta trong những hình thức sơ khai
nhất; chính cái biết và cái cảm này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; theo
nghĩa đó và chỉ theo nghĩa đó, tôi thuộc về những người có tín ngưỡng sâu
xa. Còn một Thượng đế theo nghĩa là kẻ ban phát phần thưởng và trừng phạt
những tạo vật do chính mình tạo ra, kẻ gần như có một ý chí như người trần
thế chúng ta, thì tôi không thể nào hình dung ra được. Tôi không muốn và
cũng không thể tưởng tượng ra những cá nhân sống lâu hơn cái chết thể xác;
mặc cho những tâm hồn yếu đuối, vì sợ hãi hay ích kỷ đáng cười, tìm đến
những suy nghĩ như vậy. Với tôi, sự huyền nhiệm về tính vĩnh cửu của sự
sống cùng với sự thức nhận và tiên cảm về cấu tạo kỳ diệu của tạo vật cũng
như nỗ lực nhẫn nại để nắm bắt lấy một phần dù rất nhỏ bé của cái lý tính tỏa
rạng trong cõi tạo hóa này, đã là quá đủ.
ALBERT EINSTEIN
Tiểu sử EINSTEIN
Ghi chú: số trong ngoặc là tuổi của Einstein
1879 (0) Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 ở Ulm, một
thành phố trung bình ở miền Tây Nam nước Đức. Cha là Hermann
Einstein (1847-1902), mẹ là Pauline Einstein (1858-1920), cả hai đều gốc
Do Thái.
1880 (1) Gia đình Einstein chuyển tới sống ở München.
1884 (4) Bố Einstein giải thích cho cậu bé Albert cách hoạt động của la
bàn.
1885 (6) Einstein học chơi violon.
1888 (9) Nhập học ở Trường tiểu học Luitpold, München.
1889 (10) Gặp Max Talmud, người tặng Einstein cuốn sách hình học
đầu tiên và thường xuyên dành thời gian trao đổi với Einstein tới năm 1894.
1890 (11) Einstein trải qua "một năm tôn giáo", bởi cậu sinh hoạt theo
các điều luật nghiêm ngặt của đạo Do Thái.
1891 (12) Einstein đọc một cuốn sách về hình học Euclid. Sau này,
Einstein nói: "Sự sáng sủa và chắn chắn đó đã mang lại cho tôi một ấn tượng
khó tả."
1894 (15) Gia đình di chuyển tới Milan, Italia. Riêng Einstein ở lại
München để kết thúc việc học.
1896 (17) Vào học Đại học Bách khoa Zürich, Thụy Sĩ. Einstein làm
quen với Mileva Mariç (1875-1948), người trở thành vợ ông sau này. Ông
bỏ quốc tịch Đức và năm năm liền, ông là người không có quốc tịch.
1900 (21) Einstein gửi bài viết khoa học đầu tiên tới tạp chí "Annalen
der Physik" (Niên giám vật lý).
1902 (23) Bố qua đời ở Milan; Einstein trở thành nhân viên Cục cấp
bằng sáng chế tại Bern. Con gái Liesert chào đời trước hôn nhân.
1903 (24) Kết hôn với Mileva Mariç.
1904 (25) Con trai Hans Albert chào đời.
1905 (26) Năm thần kỳ của Einstein: xuất bản 5 tiểu luận khoa học,
một trong đó có công thức E = mc2.
1907 (28) Einstein cộng tác với các nhà vật lý lớn nhất của thời đại,
trong đó có Max Planck (1858-1947) và Hermann Minkowski (1864-1909).
1908 (29) Bảo vệ luận án sau tiến sĩ (tiến sĩ habil) tại Đại học Bern;
Giảng bài đầu tiên tại học kỳ mùa đông về "lý thuyết bức xạ". Chỉ có 3 sinh
viên đến nghe.
1910 (31) Con trai thứ Eduard chào đời.
1913 (34)
Einstein viết "Phác thảo về một lý thuyết tương đối tổng quát và
một lý thuyết về hấp dẫn".
1914 (35) Chuyển tới sống ở Berlin; ly dị với Mileva Mariç.
1916 (37) Einstein hoàn tất Thuyết tương đối rộng.
1917 (38) Xuất bản cuốn sách "Về Thuyết tương đối hẹp và Thuyết
tương đối rộng". Sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, cuốn sách được dịch ra
nhiều thứ tiếng.
1919 (40) Einstein nổi tiếng thế giới: Đoàn thiên văn của Hoàng gia
London tới Brazil quan sát nhật thực đã chứng minh tính đúng đắn của
Thuyết tương đối.
1922 (43) Einstein nhận giải Nobel Vật lý (Giải được trao năm 1921).
1924 (45) Phát minh khoa học lớn cuối cùng: trạng thái đông đặc
Bose-Einstein.
1930 (51) Giảng viên được mời tại Đại học Princeton cho học kỳ mùa
đông.
1931 (52) Tuyển tập "Mein Weltbild" (Thế giới như tôi thấy) xuất bản.
1933 (54) Nghỉ ở bãi biển La Coq, miền Ostende, Bỉ. Đây là lần cuối
cùng Einstein đặt chân ở châu Âu. Ông quyết định di cư sang Mỹ. Ông trở
thành Giáo sư tại Viện nghiên cứu phát triển Princeton.
1934 (55) Einstein biểu diễn một buổi hòa nhạc violon tại New York
để ủng hộ các nhà khoa học chạy trốn Đức Quốc xã.
1936 (57) Vợ thứ hai Elsa qua đời.
1939 (60) Einstein viết hai bức thư gửi Tổng thống Franklin D.
Roosevelt.
1944 (65) Bản viết tay bài viết "Điện động lực học của các vật chuyển
động" (1905) được bán đấu giá tại Kansas City với giá 6 triệu đôla.
1946 (67) Nhận chức Chủ tịch Hội đồng chống chiến tranh nguyên tử.
1948 (69) Vợ thứ nhất Maleva Mariç qua đời.
1950 (71) Einstein viết di chúc.
1951 (72) Em gái Maja Winteler qua đời ở Princeton.
1952 (73) Einstein được mời làm Tổng thống Israel. Ông từ chối.
1953 (74) Einstein tổ chức sinh nhật rộng rãi để quyên góp thành lập
Đại học Y khoa Einstein ở New York.
1954 (75) Einstein ốm nặng. Suy gan, thiếu máu và suy nhược toàn cơ
thể.
1955 (76) Einstein qua đời ngày 18 tháng 4. Câu cuối cùng ông viết là
"Nhiệt tình chính trị đòi hỏi phải hi sinh."
Chúng ta - Những người thừa kế di sản
Các thế hệ trước đây đã có thể tin rằng, những tiến bộ về tinh
thần và văn minh, đối với họ, không phải là một cái gì khác hơn là
những thành quả được thừa hưởng từ lao động mà tổ tiên đã tạo ra,
những thành quả đảm bảo cho họ một cuộc sống dễ chịu hơn và tốt đẹp
hơn.
Những tai họa lớn của thời đại chúng ta đã chỉ ra rằng, điều này đã chỉ
là một ảo tưởng nguy hiểm.
Chúng ta thấy rằng, phải thực hiện những nỗ lực lớn nhất để di sản này
của nhân loại không mang đến điều bất hạnh, mà mang đến điều hạnh phúc.
Nếu trước đây, con người đã từng được coi là có giá trị xã hội khi được giải
phóng ở mức độ nào đó khỏi thói ích kỷ cá nhân, thì hiện nay, con người
được đòi hỏi phải vượt qua được thói ích kỷ giai cấp và dân tộc của mình.
Bởi vì chỉ khi vượt lên cao như vậy, con người mới có thể đóng góp vào việc
thay đổi số phận của cộng đồng nhân loại theo hướng tốt hơn.
Trước đòi hỏi quan trọng này của thời đại, những người dân thuộc các
quốc gia nhỏ lại ở hoàn cảnh tương đối thuận lợi hơn so với những người
dân thuộc các quốc gia lớn, bởi vì cả về chính trị và kinh tế, những người
dân này tránh được những cám dỗ của sự bành trướng quyền lực một cách
tàn bạo. Hiệp định giữa Hà Lan và Bỉ, một hiệp định đã tạo ra điểm sáng duy
nhất trong sự phát triển của châu Âu trong thời đại hiện nay, đã cho phép hy
vọng rằng, các quốc gia nhỏ có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo trong nỗ lực
đạt được sự giải phóng khỏi ách thống trị nhục nhã của chủ nghĩa quân phiệt,
nhờ việc khước từ đối với quyền tự quyết tự do, không hạn chế.
ALBERT EINSTEIN
Hướng đến an ninh của nhân loại
Sự khám phá ra các phản ứng dây chuyền của nguyên tử không
đòi hỏi con người thực hiện việc tàn phá nhiều hơn là việc phát minh ra
que diêm. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để loại trừ sự lạm
dụng. Ở trình độ hiện nay của phương tiện kỹ thuật, chỉ có một tổ chức
siêu quốc gia gắn liền với một quyền lực hành pháp đủ mạnh mới có thể
bảo vệ được chúng ta.
Nếu chúng ta đã thừa nhận điều này, thì chúng ta sẽ tìm thấy lực lượng
mang đến sự hy sinh cần thiết cho an ninh của nhân loại. Mỗi người chúng ta
cũng sẽ có lỗi, nếu mục tiêu này không được thực hiện kịp thời. Điều đáng
sợ là ở chỗ, mỗi người không làm gì cả mà chỉ chờ đợi người khác làm cho
mình.
Sự tôn trọng đối với những tiến bộ khoa học đã đạt được trong thế kỷ
này, đều được thể hiện ở mỗi người, từ người có đôi chút trình độ cho đến
người quan sát nông nổi, chỉ nhìn thấy những áp dụng về mặt kỹ thuật.
Nhưng người ta sẽ không đánh giá quá mức những thành tựu của thời đại
vừa qua, khi người ta nhớ đến những vấn đề của khoa học ở quy mô lớn.
Điều này cũng giống như trong chuyến đi bằng xe lửa: Nếu người ta chỉ chú
ý đến vùng lân cận tiếp theo, thì người ta dường như sẽ đạt được trong nháy
mắt. Còn nếu người ta chú ý đến những hình thù lớn như những dãy núi cao,
thì tình hình sẽ chỉ thay đổi dần dần. Điều này cũng tương tự, nếu người ta
gặp phải những vấn đề lớn của khoa học.
Theo ý kiến của tôi, thật không có lý, khi nói một cách chung chung về
“lối sống của chúng ta” hay lối sống của người Nga. Trong cả hai trường
hợp, người ta nói đến sự tập hợp của các truyền thống và thói quen. Tập hợp
này không tạo ra một chỉnh thể hữu cơ. Tốt hơn hết là tự hỏi mình xem,
những cơ cấu nào, những truyền thống nào là có hại hoặc có lợi cho con
người, những cơ cấu nào, những truyền thống nào làm cho cuộc sống hạnh
phúc hơn hoặc đau khổ hơn. Khi đó, người ta phải cố gắng thực thi cái đã
được nhận thấy là tốt hơn, không phụ thuộc vào câu hỏi, liệu hiện nay, nó có
thực hiện được hay không ở chúng ta hoặc ở một nơi nào đó khác.
Bàn về sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc
Bài viết cho chương trình truyền hình của Bà phu nhân tổng thống
Roosevelt
Thưa Bà Roosevelt! Tôi xin cảm ơn Bà, vì Bà đã cho tôi cơ hội
trình bày quan điểm của tôi về vấn đề chính trị quan trọng nhất này:
Trong tình trạng hiện nay của kỹ thuật quân sự, sự tin tưởng rằng,
người ta có thể có được an ninh nhờ vũ trang cho đất nước mình, hoàn toàn
chỉ là ảo tưởng. Về phía nước Mỹ, ảo tưởng này còn được khuyến khích đặc
biệt bởi một ảo tưởng thứ hai là trước tiên thành công trong việc chế tạo bom
nguyên tử ở nước này. Người ta có xu hướng tin rằng, về lâu dài có thể đạt
được ưu thế tuyệt đối về quân sự. Theo cách này, người ta tin là có thể làm
cho bất cứ kẻ thù tiềm năng nào phải khiếp sợ, qua đó mang lại cho chính
chúng ta và toàn thể nhân loại an ninh mà tất cả mọi người mong muốn tha
thiết. Câu châm ngôn được chúng ta tin cậy trong suốt năm năm qua là: An
ninh bằng sức mạnh vượt trội, dù phải trả bằng bất cứ giá nào.
Hậu quả của thái độ máy móc, kỹ thuật-quân sự và tâm lý này là không
thể tránh được. Mọi hành động đối ngoại đều bị khống chế bởi quan điểm
duy nhất: Chúng ta phải hành động như thế nào để trong trường hợp chiến
tranh, có được ưu thế hơn hẳn so với kẻ thù? Đó là việc thiết lập các căn cứ
quân sự tại tất cả các vị trí quan trọng về chiến lược trên trái đất, vũ trang và
gia tăng sức mạnh về kinh tế cho các nước đồng minh tiềm tàng; ở trong
nước, tập trung quyền lực tài chính khổng lồ vào trong tay quân đội, quân
phiệt hóa giới trẻ, giám sát lòng trung thành của các công dân và đặc biệt của
các quan chức thông qua hệ thống cảnh sát ngày càng trở nên hùng mạnh, đe
dọa những người có tư duy chính trị độc lập, gây ảnh hưởng đến tâm trạng
của dân chúng thông qua đài phát thanh, báo chí và trường học, cấm các khu
vực thông tin đang phát triển viện cớ liên quan đến bí mật quân sự.
Những hậu quả tiếp theo: Cuộc chạy đua vũ trang vốn được xem là sự
phòng ngừa giữa Liên Xô và Mỹ nay mang tính chất điên rồ. Ở cả hai phía,
phương tiện giết người hàng loạt được sản xuất trong tình trạng dồn dập sôi
động đằng sau những bức tường bí mật.
Trong triển vọng, bom H được xem như một mục tiêu có thể đạt được.
Tổng thống long trọng công bố về sự phát triển nhanh chóng của nó. Nếu
thành công, thì về mặt kỹ thuật, bom H có thể gây ra hiện tượng nhiễm
phóng xạ cho bầu khí quyển và sự huỷ hoại toàn bộ sự sống trên trái đất.
Điều khủng khiếp của diễn biến này chính là ở tính có vẻ tất yếu của nó. Mỗi
bước tiến dường như là hậu quả không thể tránh được của người đi bước
trước. Có thể thấy ngày càng rõ rằng, rút cuộc sẽ là sự hủy diệt tất cả.
Liệu có thể có giải pháp gì nói chung để cứu vãn tình hình do chính
con người tự tạo ra này được hay không? Tất cả chúng ta và đặc biệt là
những người có trách nhiệm về hành động của Mỹ và Liên Xô, cần phải học
cách thừa nhận rằng, tuy họ đã kìm chế được kẻ thù bên ngoài, nhưng lại
không có khả năng tự giải phóng mình khỏi tâm trạng do chiến tranh tạo ra.
Không thể đạt được hòa bình thực sự, nếu người ta định hướng phương thức
hành động của mình dựa vào khả năng có thể xảy ra một cuộc xung đột trong
tương lai, đặc biệt khi người ta ngày càng biết rõ rằng, một cuộc xung đột
chiến tranh như thế có nghĩa là sự hủy diệt tất cả. Vì vậy, tư tưởng chỉ đạo
của tất cả các hành động chính trị phải là: Chúng ta có thể làm được gì để tạo
ra được một sự chung sống hòa bình, thỏa đáng trong khuôn khổ có thể giữa
các quốc gia? Vấn đề đầu tiên là loại bỏ nỗi sợ hãi và thiếu tin tưởng lẫn
nhau. Sự khước từ một cách long trọng đối với việc sử dụng bạo lực chống
lại nhau (không chỉ là sự khước từ đối với việc sử dụng các phương tiện giết
người hàng loạt) dĩ nhiên là cần thiết. Sự khước từ đó chỉ trở nên có hiệu
quả, nếu nó gắn liền với việc áp dụng một cấp thẩm quyền hành pháp và tư
pháp siêu quốc gia. Quyền quyết định về các vấn đề liên quan trực tiếp đến
an ninh của các quốc gia, được chuyển giao cho cấp thẩm quyền này. Ngay
một lời tuyên bố của các quốc gia về sự cộng tác trung thành để thực hiện
một “Chính phủ thế giới hạn chế” như vậy, cũng sẽ làm giảm một cách đáng
kể nguy cơ chiến tranh.
Rút cuộc, mọi sự chung sống hòa bình của con người, thứ nhất, dựa
vào sự tin cậy lẫn nhau, thứ hai, dựa vào các thiết chế như tòa án và cảnh sát.
Điều này có giá trị cả cho các quốc gia lẫn cho các cá nhân riêng lẻ. Nhưng,
sự tin cậy chỉ dựa vào một mối quan hệ trung thực của “give and take” tức là
của “cho và nhận”.
Nhưng sự tin cậy ấy có quan hệ ra sao với sự kiểm soát quốc tế? Giờ
đây [so với lòng tin cậy lẫn nhau] sự kiểm soát quốc tế chỉ có thể có vai trò
hữu ích thứ yếu với tư cách là một biện pháp cảnh sát. Người ta có thể thực
hiện tốt vai trò này ở đây, mà vẫn không đề cao quá mức tầm quan trọng của
nó. So với giải pháp “cấm rượu” [ở Mỹ], thì đây là việc đáng suy ngẫm.
Một số ghi chú về tình hình Châu Âu hiện nay
Tình hình chính trị hiện nay của thế giới và đặc biệt là của châu
Âu, theo tôi, dường như có đặc điểm là sự phát triển về chính trị lại bị
tụt hậu cả về vật chất lẫn tinh thần so với quá trình phát triển kinh tế
vốn đã biến đổi trong thời gian tương đối ngắn ngủi; Các lợi ích của các
quốc gia riêng rẽ phải đặt dưới những lợi ích của các cộng đồng lớn hơn.
Cuộc đấu tranh cho quan điểm mới này của tư duy và cảm nhận chính
trị là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, bởi vì nó trái ngược với truyền thống
từ hàng trăm năm nay. Nhưng khả năng tồn tại của châu Âu lại phụ thuộc
vào lối thoát may mắn ấy. Tôi tin tưởng vững chắc rằng, sau khi vượt qua
các trở ngại về mặt tâm lý, việc giải quyết các vấn đề hiện thực sẽ không còn
quá khó khăn nữa. Để tạo ra bầu không khí tích cực, trước hết cần phải có sự
liên kết về con người giữa những người có cùng mục tiêu chung. Mong sao
những nỗ lực hợp nhất này sẽ thành công để bắt được một nhịp cầu tin cậy
giữa các dân tộc!
Sản xuất và lao động
Trả lời một bức thư gửi đến
Tôi nhìn thấy sự bất cập chủ yếu ở trong tự do gần như vô hạn
của thị trường lao động gắn liền với những tiến bộ phi thường của các
phương pháp sản xuất. Để sản xuất những gì cần thiết cho các nhu cầu
hiện nay, người ta không cần đến tất cả lực lượng lao động hiện có. Từ
đây xuất hiện nạn thất nghiệp và cuộc cạnh tranh không lành mạnh
giữa những người lao động. Ngoài ra, từ cả hai nguyên nhân trên, xuất
hiện sự suy giảm sức mua và đồng thời là sự bóp nghẹt quá mức của
toàn bộ chu trình kinh tế.
Tôi cũng được biết rằng, theo các nhà kinh tế tự do, việc gia tăng các
nhu cầu sẽ cân đối lại mọi sự tiết kiệm về sức lao động. Tuy nhiên, tôi không
tin điều này, và kể cả khi nó là có thật, thì các yếu tố kể trên luôn dẫn tới kết
quả là mức sống của phần lớn dân chúng bị giảm sút một cách hoàn toàn giả
tạo.
Cùng với quý vị, tôi cũng tin rằng, nhất thiết phải quan tâm để làm sao
cho những người trẻ hơn có thể và cần phải tham gia vào quá trình sản xuất.
Tôi cũng cho rằng, người ta nên đưa những người nhiều tuổi hơn khỏi những
công việc nhất định mà tôi coi là không đòi hỏi trình độ. Bù lại, họ sẽ nhận
được một khoản lương hưu, vì trước đây, trong một thời gian dài, họ đã thực
hiện công việc một cách có hiệu quả, được xã hội thừa nhận.
Tôi cũng ủng hộ chủ trương dẹp bỏ các thành phố lớn. Tôi không ủng
hộ việc định cư những người thuộc nhóm đặc biệt, chẳng hạn những người
già vào trong các thành phố đặc biệt. Tôi phải nói rằng, đối với tôi, tư tưởng
này là đáng ghê tởm.
Tôi cũng cho rằng, cần phải tránh sự chao đảo về giá trị đồng tiền, cụ
thể bằng cách thay thế tiền vàng bằng đơn vị tiền tệ tương ứng với một
lượng hàng hóa đa dạng, được ấn định theo tương quan sử dụng. Đó là một
lượng hàng hóa như đã được Keynes đề nghị từ lâu, nếu tôi không nhầm.
Khi vận dụng biện pháp này, người ta có thể chấp nhận một sự “lạm phát”
nào đó đối với giá trị đồng tiền hiện nay, một khi người ta tin rằng, nhà nước
thực sự sẽ biết sử dụng hợp lý món quà tặng được dành cho mình.
Theo quan niệm của tôi, các điểm yếu trong bản kế hoạch của ông
chính là ở yếu tố tâm lý hoặc ở sự coi thường yếu tố này. Chủ nghĩa tư bản
mang đến những tiến bộ không chỉ cho sản xuất, mà còn cho nhận thức. Đó
không phải ngẫu nhiên. Thói ích kỷ và ganh đua (thật đáng tiếc) là những thế
lực mạnh mẽ hơn là tinh thần cộng đồng hay ý thức trách nhiệm. Ở nước
Nga, người ta thậm chí không có được một chiếc bánh mỳ đàng hoàng… Có
lẽ tôi quá bi quan về những gì liên quan đến các doanh nghiệp của nhà nước
và của các “tập thể” khác, nhưng tôi vẫn không trông đợi một cái gì tốt đẹp
từ đó cả. Nạn quan liêu là Tử thần của mọi ...
 





